CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHỎAN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN QT1804K Page 3 Khóa Luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng 1. TIỀN LƯƠNG VÀ BẢN CHẤT CỦA TIỀN LƯƠNG.1 Khái niệm tiền lương - Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động theo thời gian, khối lượng và chất lượng công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp. - Tiền lương là tiền trả cho sức lao động tức là giá cả sức lao động mà người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận với nhau theo nguyên tắc cung cầu, giá cả thị trường và pháp luật Nhà nước. -Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của cán bộ công nhân viên chức.
Ngoài ra, họ còn được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian nghỉ việc, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất cùng với các khoản tiền thưởng thi đua, thưởng năng suất lao động, thưởng năng suất. Từ khái niệm trên ta thấy tiền lương và các khoản trích theo lương có đặc điểm sau: - Tiền lương được trả bằng tiền. - Tiền lương được trả sau khi hoàn thành công việc căn cứ vào sản lượng và chất lượng lao động trong đó: + Số lao động được tính bằng ngày công, số lượng sản phẩm hoàn thành. + Chất lượng lao động được thể hiện thông qua năng suất lao động cao hay thấp, sản phẩm đẹp hay xấu.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá. Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ, tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá thành của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN QT1804K Page 4 Khóa Luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng 1.2 Vai trò và chức năng của tiền lương 1.1 Vai trò của tiền lương Tiền lương là nguồn thu nhập chính của người lao động, là yếu tố để đảm bảo tái sản xuất xã hội, là một bộ phận đặc biệt của sản xuất xã hội. Vì vậy tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc phát triển và ổn định kinh tế gia đình.
Ở đây, trước hết tiền lương phải đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của người lao động như ăn, ở, sinh hoạt, đi lại,.tức là tiền lương phải duy trì được cuộc sống tối thiểu của người lao động. Chỉ khi có được như vậy tiền lương mới thực sự có vai trò quan trọng kích thích lao động và nâng cao trách nhiệm của người lao động trong sản xuất xã hội và tái sản xuất xã hội. Đồng thời chế độ tiền lương phù hợp với sức lao động đã hao phí sẽ đem lại sự lạc quan tin tưởng vào doanh nghiệp và chế độ họ đang sống. Như vậy tiền lương có vai trò đối với sự sống của con người từ đó là đòn bẩy kinh tế để nó có thể phát huy tối đa nội lực hoàn thành công việc.
Khi người lao động được hưởng tiền công xứng đáng với năng lực mà họ bỏ ra thì lúc đó việc gì họ cũng sẽ làm được. Như vậy có thể nói tiền lương đã giúp nhà quản lý điều hành phân phối công việc được dễ dàng và thuận lợi. Trong doanh nghiệp việc sử dụng công cụ tiền lương ngoài mục đích tạo vật chất cho người lao động tiền lương còn có ý nghĩa lớn trong việc theo dõi kiểm tra và giám sát người lao động. Tiền lương được sử dụng như một thước đo hiệu quả công việc, bản thân tiền lương là một bộ phận cấu thành bên chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý trong doanh nghiệp.
Vì vậy nó là yếu tố nằm trong giá thành sản phẩm và ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Với những vai trò to lớn như trên của tiền lương trong sản xuất và đời sống thì việc lựa chọn hình thức trả lương cho phù hợp với điều kiện sản xuất, đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành, từng doanh nghiệp sẽ có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy người lao động quan tâm đến kết quả lao động và hiệu quả sản xuất. Đây NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN QT1804K Page 5 Khóa Luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng luôn là vấn đề nóng bỏng trong tất cả các doanh nghiệp về một chế độ tiền lương hợp lý đảm bảo được lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động cũng như toàn xã hội.2 Chức năng của tiền lương Chức năng kích thích người lao động Tiền lương đảm bảo và góp phần tác động để tạo thành cơ cấu lao động hợp lý, trong toàn bộ nền kinh tế, khuyến khích phát triển ngành và lãnh thổ. Khi người lao động được trả công xứng đáng sẽ tạo niềm say mê tích cực làm việc, phát huy tinh thần làm việc sáng tạo, tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ gắn trách nhiệm cá nhân với lợi ích tập thể và công việc.
Tiền lương là đòn bẩy kinh tế, là công cụ khuyến khích vật chất và động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Như vậy, tiền lương phải được trả theo kết quả của người lao động, mới khuyến khích được người lao động làm việc có hiệu quả và năng suất. Chức năng giám sát của lao động Người sử dụng lao động thông qua việc trả lương cho người lao động có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi người lao động làm việc theo kế hoạch tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem laị kết và hiệu quả cao. Nhà nước giám sát lao động bằng chế độ tiền lương đảm bảo quyền lợi tối thiểu cho người lao động, khi họ hoàn thành công việc.
Đặc biệt trong trường hợp người sử dụng lao động vì sức ép, vì lợi nhuận mà tìm mọi cách giảm chi phí trong đó có chi phí tiền lương trả cho người lao động cần phải được khắc phục ngay. Ngoài 2 chức năng vừa nêu còn một số chức năng khác như: chức năng thanh toán, chức năng thước đo giá trị sức lao động, chức năng điều hoà lao động.3 Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp Tiền lương trả cho người lao động phải quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, trả lương theo số lượng và chất lượng lao động. Việc trả lương cho người NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN QT1804K Page 6 Khóa Luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng lao động theo số lượng và chất lượng lao động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc động viên, khuyến khích người lao động phát huy tinh thần dân chủ, thúc đẩy họ hăng say lao động sáng tạo nâng cao năng suất lao động nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mỗi thành viên trong xã hội. Hiện nay việc trả lương cho người lao động được tiến hành theo các hình thức: 1.1 Trả lương theo sản phẩm - Là phương thức tính trả lương cho người lao động theo chất lượng và số lượng sản phẩm hoặc công việc đă hoàn thành.
- Là phương thức trả lương có tác dụng khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động góp phần tăng số lượng sản phẩm, gắn chặt năng suất lao động với thù lao lao động. - Công thức tính: L= ĐG* Q Trong đó: - ĐG: đơn giá tiền lương - Q: mức sản lượng thực tế - L: lương tính theo sản phẩm Ưu điểm: Là mối quan hệ giữa tiền lương công nhân nhận được và kết quả lao động thể hiện rõ ràng người lao động xác định ngay được tiền lương của mình, do quan tâm đến năng suất chất lượng sản phẩm của họ. Nhược điểm Người lao động hay quan tâm đến số lượng sản phẩm nhưng ít quan tâm đến chất lượng sản phẩm, tinh thần tập thể tương trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất kém, hay có tình trạng giấu nghề, giấu kinh nghiệm. NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN QT1804K Page 7 Khóa Luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng 1.2 Trả lương theo thời gian – Là việc tính trả lương cho nhân viên căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và trình độ tay nghề.
Nghĩa là căn cứ vào thời gian làm việc và cấp bậc lương quy định cho các ngành nghề để tính toán trả lương cho người lao động. Cách tính này thường áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng hành chính quản trị, tài vụ kế toán,… hoặc những công việc chưa xây dụng được định mức lao động, chưa có giá lương sản phẩm. Lương tháng: là tiền lương trả cố định trong 1 tháng trên cơ sở hợp đồng lao động: Cách tính: Lương tháng= Ltt*( Hcb +Hpc) Trong đó: - Ltt: mức lương tối thiểu - Hcb: hệ số cấp bậc lương của từng người - Hpc: hệ số các khoản phụ cấp Tiền lương tháng Lương tháng = Số ngày trong tháng theo chế độ Ưu điểm - Phù hợp với công việc không định mức hoặc không nên định mức - Tính toán đơn giản, dễ hiểu, áp dụng cho những lao động ở bộ phận giá tiếp, nhũng nơi không có điều kiện xác định chính xác khối lượng hoàn thành. Nhược điểm - Do cha thực sự gắn với kết quả sản xuất nên hình thức này chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động, chưa phát huy hết khả năng sẵn có của người lao động,chưa khuyến khích người la động quan tâm đến kết quả lao động.
NGUYỄN THỊ MỸ DUYÊN QT1804K Page 8 Khóa Luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân Lập Hải Phòng 1.3 Trả lương khoán - Là hình thức trả lương khi người lao động hoàn thành được khối công việc theo đúng chất lượng được thỏa thuận giữa người thuê lao động và người lao động. - Hình thức này làm cho người lao động quan tâm đến số lượng và chất lượng lao động của mình, người lao động có tinh thần trách nhiệm cao với sản phẩm mình làm ra. - Công thức tính: Lương = Đơn giá khoán * Khối lượng công việc 1. Trả lương theo doanh thu Là hình thức trả lương mà thu nhập người lao động phụ thuộc vào doanh số đạt được theo mục tiêu doanh số và chính sách lương, thưởng doanh số quy định của công ty.
– Phương thức trả lương này thường được áp dụng cho nhân viên bán hàng, nhân viên kinh doanh. – Các hình thức lương, thưởng theo doanh thu: + Lương, thưởng doanh số nhóm. + Lương, thưởng doanh số cá nhân. + Các hình thức thưởng kinh doanh khác: công nợ, phát triển thị trường,thưởng theo mốc mục tiêu đạt được,… 1.