LỜI MỞ ĐẦU! 1. Lý do chọn đề tài. Trong xu thế hội nhập và phát triển với nền kinh tế thế giới, đất nƣớc ta đã và đang có những bƣớc chuyển mình khá vững chắc, đặc biệt về kinh tế. Cơ chế thị trƣờng đã tạo ra cho các doanh nghiệp nhiều thời cơ, tuy nhiên nó cũng đạt ra không ít thách thức mới buộc các doanh nghiệp phải tự tìm ra phƣơng án sản xuất tối ƣu để có thể tồn tại và phát triển.
Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chính là lợi nhuận. Để có đƣợc lợi nhuận cao thì doanh nghiệp phải sử dụng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp hữu hiệu nhất chính là giảm chi phí để từ đó hạ giá thành sản phẩm. Đây là điều kiện để doanh nghiệp có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trƣờng. Kế toán với vai trò là công cụ quản lý đắc lực của nhà quản trị phải luôn tính toán và hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời các loại chi phí bỏ ra để sản xuất sản phẩm, sau đó so sánh với doanh thu đạt đƣợc để xác định kết quả kinh doanh.
Việc tập hợp chi phí sản xuất chính xác, đầy đủ, đúng đối tƣợng và đúng phƣơng pháp sẽ góp phần quan trọng cho việc tính giá thành chính xác. Để công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có hiệu quả thì công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần đƣợc tổ chức quản lý và hạch toán một cách khoa học, đúng chế độ và không ngừng hoàn thiện. Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo cơ sở hạ tầng cho xã hội. Để chiến thắng trong cạnh tranh các doanh nghiệp xây lắp phải tìm ra biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo đƣợc chất lƣợng công trình.
Việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp tổ chức tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, ngoài ra nó còn góp phần phân tích chi phí để đƣa ra các biện pháp quản lý phù hợp. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng và sự cần thiết của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, trong quá trình tìm hiểu thực tiễn tại công ty TNHH Hoàng Tuấn, em nhận thấy công tác tổ chức kế toán tập hợp chi phí và 10 tính giá thành sản phẩm tại công ty tƣơng đối phù hợp. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục để công tác kế toán tại công ty đƣợc hoàn thiện hơn nữa nhƣ: đội ngũ nhân viên kế toán tại các tổ đội có trình độ chuyên môn còn chƣa cao, hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc tổ chức công tác kế toán đã đƣợc trang bị song còn chƣa đáp ứng tốt nhu cầu hiện tại, việc luân chuyển chứng từ còn chậm thƣờng bị dồn một lúc vào cuối tháng dễ gây ra sự sai sót nhầm lẫn, khả năng đánh giá nắm bắt sự biến động của thị trƣờng nguyên vật liệu chƣa tốt… Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và vai trò của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, em đã quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Hoàng Tuấn”. Mục đích nghiên cứu.
Hệ thống hóa lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Tìm hiểu thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Hoàng Tuấn. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Hoàng Tuấn. Đối tƣợng nghiên cứu.
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sản xuất tại Công ty TNHH Hoàng Tuấn. Phạm vi nghiên cứu. Công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Hoàng Tuấn quý 4 năm 2014. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề với những kiến thức đã đƣợc trang bị trong nhà trƣờng và qua một số tài liệu tham khảo, em đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu và xử lý số liệu sau: a. Phương pháp thống kê. 11 Phƣơng pháp chọn mẫu: lựa chọn đối tƣợng tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của một công trình. Phƣơng pháp điều tra thu thập số liệu: nói chuyện trao đổi trực tiếp với các nhân viên trong công ty, đặc biệt là cán bộ nhân viên phòng kế toán nhằm nâng cao hiểu biết về công ty, về công tác hạch toán; thu thập số liệu thông qua sổ sách kế toán, các Báo cáo tài chính và các số liệu liên quan.
Phƣơng pháp thống kê mô tả: phƣơng pháp này dùng để mô tả các quy trình hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty để đánh giá và phân tích đƣợc nhanh chóng và chính xác. Phương pháp kế toán: Phƣơng pháp chứng từ kế toán: đƣợc dùng để thu thập thông tin kế toán. Phƣơng pháp tài khoản kế toán: đƣợc dùng để hệ thống hóa thông tin kế toán. Phƣơng pháp tính giá: đƣợc dùng để tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm hoàn thành theo những nguyên tắc nhất định.
Phƣơng pháp tổng hợp – cân đối kế toán: đƣợc sử dụng để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính. Phƣơng pháp phân tích đánh giá: thông qua quá trình tìm hiểu thực tế tại công ty để tiến hành phân tích từ đó đƣa ra nhận xét, đánh giá về công ty. Kết cấu khóa luận: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Hoàng Tuấn.
Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Hoàng Tuấn. 12 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh xây lắp ảnh hƣởng tới công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Đặc điểm của ngành xây lắp.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất mang tính chất công nghiệp, tạo ra cơ sở vật chất – tiền đề cho sự phát triển của nềm kinh tế quốc dân. Một đất nƣớc muốn phát triển trƣớc hết phải có cơ sở hạ tầng vững chắc; đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay, phát triển cơ sở hạ tầng là một nhu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, ngành xây dựng cơ bản ngày càng đƣợc chú trọng đầu tƣ phát triển. Cũng nhƣ các ngành sản xuất khác, quá trình sản xuất của các doanh nghiệp xây lắp là quá trình kết hợp 3 yếu tố: Tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động để tạo ra các sản phẩm lao vụ và dịch vụ.
Tuy nhiên, ngành xây dựng cơ bản có những nét đặc thù, những nét khác biệt so với những ngành khác. Sự khác biệt đó đã chi phối công tác tổ chức kế toán nói chung và công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng trong doanh nghiệp xây lắp. Cụ thế nhƣ sau: - Hoạt động của doanh nghiệp xây lắp mang tính chất lƣu động, đƣợc tiến hành ngoài trời, các điều kiện cần thiết cho sản xuất nhƣ: các loại xe, các loại máy, thiết bị, nhân công… phải di chuyển theo địa điểm đặt công trình. Mặt khác, việc xây dựng còn chịu tác động của địa chất công trình và điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phƣơng… Vì vậy, công tác quản lý và sử dụng tài sản, vật tƣ cho công trình rất phức tạp, đòi hỏi phải có mức giá cho từng loại công tác xây lắp, cho từng vùng lãnh thổ.
- Thời gian thi công các công trình thƣờng kéo dài, có thể là vài tháng, hoặc vài năm, phụ thuộc vào quy mô cũng nhƣ tính phức tạp của công trình. Vì vậy, quá trình tập hợp chi phí sản xuất thƣờng kéo dài. 13 - Việc tiến hành thi công các công trình, hạng mục công trình một doanh nghiệp xây lắp thƣờng đƣợc tổ chức phân tán nên rất khó cho việc quản lý chi phí sản xuất. - Trong các doanh nghiệp xây lắp, cơ chế khoán đang đƣợc áp dụng rộng rãi với các hình thức giao khoán khác nhau nhƣ: khoán gọn công trình (khoán toàn bộ chi phí), khoán theo từng khoản mục chi phí.
Vì vậy phải hình thành nên bên giao khoán, bên nhận khoán và giá khoán. Việc giao khoán này góp phần nâng cao trách nhiệm trong quản lý xây dựng, tiết kiệm chi phí và đẩy nhanh tiến độ thi công.Đặc điểm của sản phẩm xây lắp. Sản phẩm xây lắp là những công trình, hạng mục công trình, các vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp dài. Vì vậy phải lập dự toán cho sản phẩm theo từng giai đoạn, từng khối lƣợng công tác xây lắp.
Sản phẩm xây lắp đƣợc tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá trị thỏa thuận do đơn vị xây lắp ký kết với đơn vị chủ đầu tƣ khi trúng thầu hoặc chỉ định thầu nên tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không đƣợc thể hiện rõ. Quá trình tiêu thụ sản phẩm xây lắp đƣợc thực hiện thông qua bàn giao công trình, hạng mục công trình hoặc khối lƣợng xây lắp hoàn thành đạt điểm dừng kỹ thuật cho bên giao thầu. Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất cũng là nơi sản phẩm hoàn thành và đƣa vào sử dụng, còn các điều kiện cần thiết cho sản xuất phải di chuyển theo địa điểm đặt công trình. Do đó công tác quản lý, sử dụng và hạch toán tài sản, vật tƣ cho công trình rất phức tạp.