CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị có thể được định nghĩa là một hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin kế toán hữu ích cho các nhà quản lý trong nội bộ đơn vị để ra quyết định (Bruns Jr & McKinnon, 1993; Horngren, Bhimani, Datar, Foster, & Horngren, 2002). Theo Horngren et al. (2002); (Weygandt, Kieso, & Kell, 1993), phạm vi của KTQT gắn với việc tạo ra các báo cáo cho các nhà quản lý sử dụng trong việc ra quyết định. KTQT có thể được thực hiện trên hệ thống máy tính hoặc một cách thủ công.
Thông thường, mỗi tổ chức doanh nghiệp tự thiết kế hệ thống KTQT của mình phù hợp với các mục tiêu kiểm soát và phân tích mối quan hệ chi phí - lợi ích. Horngren et al. (2002) cung cấp một danh sách chi tiết hơn về các mục đích của KTQT, gồm 5 mục đích mà hệ thống kế toán quản trị có thể cung cấp thông tin, như (1) xây dựng chiến lược tổng thể và kế hoạch tầm xa, (2) quyết định phân bổ nguồn lực, (3) lập kế hoạch chi phí và kiểm soát chi phí, (4) đo lường và đánh giá hiệu suất và (5) đáp ứng các yêu cầu về quản lý. Đồng thời, Horngren et al.
(2002) bổ sung thêm rằng tất cả các mục đích này đòi hỏi phải có một chế độ báo cáo hoặc trình bày. Hệ thống kế toán có thể được phân biệt dựa trên đối tượng nhận thông tin, nội bộ và bên ngoài (Ebert, 2000; Ewert & Wagenhofer, 2008; Schneider, 1997). Hansen and Mowen (1997) phân biệt giữa các hệ thống kế toán tài chính và KTQT, theo đó thông tin của hệ thống kế toán tài chính chủ yếu phục vụ cho đối tượng sử dụng bên ngoài và hệ thống kế toán quản trị cung cấp thông tin cho đối tượng nội bộ. Leitner (2013) phân biệt hệ thống kế toán theo người nhận thông tin và theo mục đích.
Phân loại theo người nhận bao gồm hệ thống kế toán nội bộ và hệ thống kế toán bên ngoài, trong đó hệ thống thông tin sử dụng cho các mục đích bên ngoài 6 là các hệ thống kế toán tài chính và hệ thống thông tin sử dụng cho các mục đích nội bộ là hệ thống KTQT. Phân loại theo mục đích của Leitner (2013) thì hệ thống KTQT bao gồm bộ phận kế toán chi phí và bộ phận kế toán dự toán. Phân loại của Leitner (2013) được thể hiện qua sơ đồ 1.1: PHÂN LOẠI HỆ THỐNG KẾ TOÁN (Nguồn: (Leitner, 2013)) Martin (2009) cho rằng hệ thống kế toán doanh nghiệp bao gồm kế toán thuế, kế toán tài chính, kế toán quản trị và kiểm toán nội bộ. Kế toán quản trị bao gồm kế toán chi phí, quản trị chi phí, quản trị hoạt động và quản trị đầu tư.
7 Hệ thống kế toán doanh nghiệp (Business accounting system) Kế toán thuế Kế toán tài chính Kế toán quản trị Kiểm toán nội bộ (Tax Accounting) (Financial (Manageral (Internal Accounting) Accounting) Auditing) Quản trị chi phí Kế toán chi phí (Cost (Cost Accounting) Management) Quản trị hoạt động (Activity Management) Quản trị đầu tư (Investment Management) SƠ ĐỒ 1.2: HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP (Nguồn: (Martin, 2009)) Kế toán thuế và kế toán tài chính: Theo Martin (2009) mặc dù phạm vi của kế toán thuế và kế toán tài chính có thể rất khác nhau, nhưng có một điểm chung là cùng tạo ra báo cáo cung cấp cho người sử dụng bên ngoài. Kế toán thuế phải lập các tờ khai, báo cáo thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế. Kế toán tài chính phải lập các báo cáo tài chính phù hợp với các nguyên tắc kế toán và chuẩn mực kế toán. Kế toán quản trị: kế toán quản trị và các thành phần của KTQT được mô tả trong sơ đồ 1.2, kế toán quản trị có quan hệ mật thiết với kế toán chi phí và bao gồm các hệ thống con như quản trị chi phí, quản trị hoạt động và quản trị đầu tư (Martin, 2009).
Kế toán quản trị bao gồm việc tạo ra thông tin cho người sử dụng trong nội bộ ở tất cả các cấp quản lý. Thông tin cung cấp cho người sử dụng trong nội bộ theo tần suất và nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào cách sử dụng thông tin. Sự khác biệt chính giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị là các báo cáo kế toán quản trị không bị ràng buộc trực tiếp bởi các chuẩn mực kế toán (Horngren et al. 8 Kế toán chi phí: Martin (2009) cho rằng đồng thời liên quan đến cả kế toán thuế, kế toán tài chính và kế toán quản trị như trong sơ đồ 1.2 bởi vì nó là một thành phần quan trọng trong hệ thống kế toán và kế toán chi phí liên quan đến việc xác định chi phí của một sản phẩm, một dịch vụ, một hoạt động, một dự án, hoặc một số đối tượng khác.
Việc xác định chi phí cần thiết cho nhiều mục đích như chi phí của các sản phẩm và dịch vụ sản xuất là cần thiết cho cả thuế và báo cáo tài chính. Nói cách khác, thuế và kế toán tài chính phụ thuộc vào kế toán chi phí để cung cấp thông tin chi phí (Mowen & Hansen, 2011). Thông tin về chi phí cũng là cần thiết cho một loạt các quyết định quản lý. Ví dụ, dự toán chi phí cần thiết để xác định có sản xuất hay không sản xuất một loại sản phẩm, xác định giá bán để đạt được lợi nhuận mong muốn, chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm cũng là cần thiết để quyết định tiếp tục hoặc ngừng sản xuất sản phẩm.
Như vậy, kế toán chi phí là một bộ phận quan trọng vì không một loại kế toán nào bao gồm kế toán thuế, kế toán tài chính hoặc kế toán quản trị có thể tồn tại mà không xác định chi phí (Drury, 2013). Kiểm toán nội bộ: là một lĩnh vực chủ yếu liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức. Kiểm toán viên nội bộ có thể kiểm tra, hoặc kiểm toán tất cả các hệ thống kế toán và hệ thống quản lý của tổ chức (Martin, 2009). Quản trị chi phí: là một thuật ngữ được phổ biến bởi CAM-I (Consortium of Advanced Management - International).
Quản trị chi phí được cho là một khái niệm toàn diện hơn kế toán chi phí trong đó nhấn mạnh vào việc quản lý và điều chỉnh chi phí hơn là báo cáo chi phí (Berliner & Brimson, 1988). Ví dụ, rất nhiều đề xuất được đưa ra để giảm chi phí ở giai đoạn thiết kế của vòng đời sản phẩm thay vì chỉ đơn giản cố gắng để đo lường và kiểm soát chi phí trong giai đoạn sản xuất. Quản trị chi phí là quản lý và kiểm soát các hoạt động để xác định chi phí sản phẩm chính xác, cải tiến quy trình kinh doanh, loại bỏ các chi phí thừa và thiết lập các chiến lược kinh doanh (Brimsom, 1991). Đó là một cách tiếp cận theo định hướng quá trình chứ không phải là một cách tiếp cận theo kết quả kế toán.
Quản trị hoạt động cũng cần có một thời gian dài, chứ không phải là loại bỏ các hoạt động thừa trong thời gian ngắn. Mặc dù quản trị hoạt động là một phần của hệ thống quản trị chi phí do CAM-I ủng hộ, điều quan trọng là phải phân biệt giữa chi phí quản lý (kết quả kế toán) và quản lý hoạt động (quy trình hoặc công việc) (Berliner & Brimson, 1988). Sự phân biệt này rất quan trọng vì việc nhấn mạnh quá nhiều vào chi phí có thể 9 khiến các nhà quản lý quyết định giảm chi phí, nhưng không có lợi ích gì lớn cho hoạt động và khả năng cạnh tranh của tổ chức (Martin, 2009). Quản trị đầu tư: Quản trị đầu tư bao gồm quá trình lập kế hoạch và ra quyết định để thu thập và sử dụng các nguồn lực của tổ chức, bao gồm cả nhân lực cũng như công nghệ, thiết bị và phương tiện (Brimsom, 1991).
Như vậy, dựa vào các cách phân loại hệ thống kế toán nói chung và phân loại kế toán quản trị như trong sơ đồ 1.2 , kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị xét ở góc độ KTQT và là một bộ phận của kế toán chi phí ở góc độ kế toán tài chính. Theo Phạm Thị Thủy (2007) KTQTCP là một bộ phận của hệ thống KTQT nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý. Hồ Mỹ Hạnh (2013) KTQTCP là một bộ phận của KTQT hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin về chi phí cho các chủ thể quản lý trong nội bộ doanh nghiệp. Đào Thúy Hà (2015) cho rằng KTQTCP là một bộ phận của KTQT nhằm cung cấp thông tin chi phí phục vụ quản trị tổ chức.
Như vậy, KTQTCP là một bộ phận của KTQT cung cấp thông tin về dự toán, theo dõi, kiểm tra, kiểm soát, phân tích về chi phí sản xuất và ngoài sản xuất.2 Chức năng của kế toán quản trị chi phí Kế toán có hai chức năng là chức năng thông tin và chức năng kiểm tra. KTQTCP là một phần của hệ thống kế toán, do đó KTQTCP cũng có hai chức năng của kế toán là chức năng thông tin và chức năng kiểm tra. Mặt khác, KTQTCP với mục đích là phản ánh và cung cấp thông tin chi phí để thực hiện chức năng quản trị DN, do đó KTQTCP cũng có những chức năng của KTQT. Chức năng của KTQT được gắn kết với chức năng quản trị DN bao gồm các chức năng: Chức năng phản ánh và cung cấp thông tin hoạch định HĐSXKD; chức năng phản ánh và cung cấp thông tin kết quả HĐSXKD; chức năng phản ánh và cung cấp thông tin kiểm tra, đánh giá thực hiện HĐSXKD; chức năng phản ánh và cung cấp thông tin ra quyết định quản trị của nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp.
10 Theo Phạm Văn Dược, Trần Văn Tùng, and Phạm Ngọc Toàn (2010): KTCP một mặt thực hiện chức năng KTTC nên chức năng cơ bản của KTQTCP là cung cấp thông tin chi phí để soạn thảo các BCTC; mặt khác, KTCP cung cấp thông tin chi phí cho nhà quản trị để ra quyết định đặc thù nên chức năng cơ bản của KTQTCP là cung cấp thông tin để lập kế hoạch, kiểm soát và định hướng ra quyết định quản trị.