phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông ã Chƣơng 3: ột số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Sông Mã. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về kế toán quản trị 1. Khái niệm và đặc điểm của kế toán quản trị Để quản lý kinh tế hiệu quả không thể không sử dụng dụng công cụ kế toán.
ế toán chủ yếu tập trung vào ghi chép, tổng hợp nhằm lập báo cáo tài chính của một DN nhằm truyền đạt thông tin tài chính về tình hình và sự vận động của tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của DN đến các đối tƣợng sử dụng thông tin với mục đích khác nhau. hi đó hệ thống kế toán đƣợc chia thành hai bộ phận. ột bộ phận chuyên cung cấp các thông tin cho đối tƣợng bên ngoài DN đƣợc gọi là kế toán tài chính ( TTC) và một bộ phận chuyên cung cấp thông tin theo yêu cầu của nhà quản lý trong nội bộ DN gọi là kế toán quản trị ( TQT). Theo CG A, thì: “ ế toán quản trị là việc tìm kiếm, phân tích, truyền đạt và sử dụng thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến quyết định để tạo ra và gìn giữ giá trị cho các tổ chức”.
Theo Luật ế toán Việt Nam số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 và Thông tƣ 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp: “ ế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Nhƣ vậy, tổng hợp nội hàm của các khái niệm nhƣ sau: “Kế toán quản trị à m t m n khoa học thu nh n, và cung c p nh ng th ng tin định ư ng, kh ng định ư ng (th ng tin tài ch nh và ph tài ch nh v các hoạt đ ng của đơn vị m t cách chi tiết, gi p cho các nhà qu n trong quá tr nh ra các quyết định iên quan đến việc p kế hoạch, t chức th c hiện, ki m tra, ki m soát và đánh giá t nh h nh th c hiện các hoạt đ ng của đơn vị ục tiêu cuối cùng của DN đó là tiêu thụ đƣợc sản phẩm, thu hồi lại đƣợc vốn kinh doanh đã chi ra trong kì và kết quả cuối cùng là tạo ra lợi nhuận để phân phối cho chủ sở hữu. Tuy nhiên trong tình hình thực tế với 4 muôn vàn khó khăn trong thị trƣờng cạnh tranh của nền kinh tế bắt buộc các nhà quản lý DN phải đƣa ra các quyết định kinh doanh một cách sáng suốt và khoa học trong suốt quá trình kinh doanh của DN mình. Cơ sở vững chắc để các nhà quản trị tiến hành các quyết định đó chính là phải dựa vào hệ thống thông tin TQT cung cấp.
Nhƣ vậy, TQT có chức năng theo dõi tình hình biến động của các yếu tố đầu vào nhƣ tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động; theo dõi các yếu tố đầu ra nhƣ doanh thu bằng các thƣớc đo khác nhau, gắn với các quan hệ tài chính. Từ các phân tích trên có thể thấy, bản chất của TQT đƣợc thể hiện ở những khía cạnh sau: - TQT là một bộ phận của kế toán nói chung đối với các DN kinh doanh; - Đối tƣợng sử dụng TQT là các nhà quản trị DN với mục đích xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, phân tích đánh giá và ra quyết định. - Thông tin TQT gắn liền với hoạt động cụ thể của DN và đƣợc đo lƣờng thông qua thƣớc đo tiền tệ. Khái niệm và đặc điểm của KTQT chi phí Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế đã ngày càng thúc đẩy các công cụ quản lý kinh tế hoàn thiện hơn so với sơ khai.
Theo đó đã có nhiều tác giả, nhóm tác giả nghiên cứu về TQT chi phí, đƣợc tác giả tổng hợp lại nhƣ sau: Dƣới góc độ nghiên cứu và phân tích của Viện ế toán Quản trị Hoa ỳ (C A) thì KTQT chi phí là kỹ thuật hay phƣơng pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này đƣợc xác định bằng việc đo lƣờng trực tiếp, kết chuyển tuỳ ý hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý. TQT chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ DN để đánh giá, kiểm soát quá trình hoạt động. Thông tin của TQT chi phí hƣớng đến tƣơng lai nên có sự phân tích, đánh giá đến môi trƣờng bên ngoài doanh nghiệp (DN). Dƣới góc độ nghiên cứu của Horngen và cộng sự (2008), với quan điểm coi TQT chi phí là một phần của hệ thống hoạch định chiến lƣợc và 5 tham gia trực tiếp vào hoạt động quản trị DN nên nội dung TQT chi phí đƣợc xác định gồm 4 nội dung cơ bản: Dự toán chi phí; Quá trình tập hợp chi phí; Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lƣợng - lợi nhuận; Ra quyết định quản lý.
Hiện nay, tại Việt Nam, cũng đã có nhiều nghiên cứu và quan điểm về TQT chi phí, trong đó nêu ra những nội dung cơ bản của TQT chi phí Theo tác giả Nguyễn Thị ai Anh (2014) trong “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần nhựa niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” cho rằng “ ế toán quản trị chi phí là bộ phận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về chi phí phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp”. Hay trong nghiên cứu của tác giả Đào Thúy Hà (2015) “Hoàn thiện kế toán QTCP trong các doanh nghiệp sản xuất thép ở Việt Nam” cho rằng “ ế toán quản trị chi phí là một phân hệ của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin chi phí phục vụ quản trị tổ chức”. Từ những quan điểm và nghiên cứu về TQT chi phí, có thể thấy những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nh t, KTQT chi phí đóng vai trò chính trong việc cung cấp thông tin về số liệu kế toán kế toán ban đầu, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu thông tin nhà quản trị DN. Đây là những thông tin quan trọng và hữu ích đối với các nhà quản trị trong việc trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh thƣờng xuyên của DN, từ đó giúp đƣa ra các các quyết định khác nhau liên quan tới hiệu quả SX D trong ngắn và dài hạn.
Hai là, chức năng của KTQT chi phí là giúp đƣa ra các hoạch định cho tƣơng lai, đƣợc thiết lập bởi nhu cầu thông tin trong việc lập kế hoạch chiến lƣợc và hoạt động sản xuất kinh doanh. Với sự tham gia ngày càng nhiều của các DN tạo nên một nền kinh tế thị trƣờng cạnh tranh gay gắt yêu cầu nhà quản trị phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh nên tốc độ cung cấp thông tin của TQT chi phí cần nhanh chóng, chính xác, linh hoạt và thích hợp với từng quyết định, có thể cung cấp bất kỳ khi nào nhà quản lý cần. Tuy nhiên, điều này cũng thể hện thông tin KTQT phục vụ hoạt động của nội bộ DN và không đòi hỏi phải tuân thủ theo pháp luật kế toán. 6 Ba là, thông tin của TQT chi phí đƣợc biểu diễn và đo lƣờng dƣới hình thức giá trị qua phƣơng tiện tiền tệ.
Thông tin đó đƣợc thu thập, xử lý, phân tích trên cơ sở kết hợp xuyên suốt từ dữ liệu lịch sử đến dữ liệu hiện tại, dữ liệu ƣớc tính và các dự án tƣơng lai. Nguồn dữ liệu của TQT chi phí là hệ thống dữ liệu kế toán của DN song hành cùng với các nguồn thông tin khác nhƣ: xu hƣớng phát triển của ngành, nhóm ngành; khả năng cạnh tranh; thị trƣờng tiền tệ nhƣ lãi suất, lạm phát,…. Bốn à, do đặc trƣng của KTQT chi phí là sử dụng nội bộ trong DN vì thế TQT chi phí không mang tính pháp lệnh và không bắt buộc phải tuân thủ các chuẩn mực kế toán chung, có nghĩa là DN có thể quy định ra các nguyên tắc cơ bản riêng và các sổ sách cần thiết phù hợp với nhu cầu quản lý mà không bị ràng buộc bởi các quy định của các cơ quan quản lý nhà nƣớc. Đặc trƣng hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành xây lắp ảnh hƣởng đến kế toán quán trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Nhƣ đã giới thiệu ở phần tính cấp thiết của đề tài, ngành xây dựng là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất ở mọi quốc gia trên thế giới với đặc thù là yêu cầu một lƣợng vốn lớn, nhân lực lớn và thời gian thi công dài.
Là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho tất cả các ngành khác trong nền kinh tế - xã hội, từ đó là tiền đề thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Do đó, quản lý tốt và hạch toán đúng, đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong hoạt động xây lắp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, ngành xây dựng cơ bản cũng có những nét đặc thù riêng ảnh hƣởng công tác quản lý, ghi nhận chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Những đặc điểm đó là: Thứ nhất, sản phẩm xây lắp là các CT/H CT, vật kiến trúc có quy mô, giá trị và thời gian sử dụng lớn tạo nên nền móng của một nền kinh tế quốc dân.
Do đó, công tác tổ chức quản lý phải đƣợc thực hiện một cách chính xác, mỗi CT/H CT trƣớc khi đƣợc tiến hành xây dựng phải đƣợc lập dự toán về thiết kế thi công và trong quá trình xây lắp luôn phải tiến hành so sánh nhằm phát hiện chênh lệch so với dự toán.