Chương 1: Cơ sở lý luận về KTQTCP trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng KTQTCP tại doanh nghiệp kinh doanh khách sạn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện KTQTCP tại doanh nghiệp kinh doanh khách sạn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm KTQTCP KTQT ra đời và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của thông tin kế toán theo yêu cầu của nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp vào những năm đầu thế kỷ 19 ở những quốc gia phát triển như: Hoa kỳ, Mỹ,. Cùng với sự phát triển thực tiễn của KTQT, KTQT đã hình thành hệ thống lý thuyết tại các tổ chức, hiệp hội kế toán quốc gia, quốc tế.
Theo Hiệp hội kế toán viên quốc gia Hoa Kỳ (National Association of Accountants-NAA) (USA): “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải, và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với nguồn lực của tổ chức đó. Arora, 2009), (Bộ môn KTQT- Phân tích HĐKD- Khoa Kế toán- Kiểm toán- Trường Đại học Kinh tế TP. Theo Hiệp hội kế toán quản trị công chứng của Anh Quốc (Chartered Institute of Management Accountants- CIMA) (UK): “Kế toán quản trị là một quy trình nhận dạng, tổng hợp- trình bày, diễn giải- truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, nâng cao giá trị cho cổ đông và doanh nghiệp, nâng cao giá trị cho người lao động và đảm bảo an toàn cho tài sản”. Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation of Accountant- IFAC): “Kế toán quản trị được xem như là một quy trình nhận dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp”.
Theo điều 3, Luật kế toán số 03/2003/QH11 đầu tiên được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 3 thông qua ngày 17/06/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Như vậy, các định nghĩa đều có chung quan điểm: KTQT là chu trình thu thập xử lý, phân tích và cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản trị bên trong nội bộ doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp. KTCP là nguồn gốc của KTQT và được định nghĩa khác nhau với cách tiếp cận khác nhau về nội dung và đối tượng cung cấp thông tin khác nhau.Arora (2009): Xét về nội dung, mục đích thông tin kế toán cung cấp cho người sử dụng, kế toán có thể được phân chia thành ba loại: KTTC, KTCP và KTQT; KTCP là một bộ phận của kế toán đảm nhận đặc biệt cung cấp thông tin chuyên sâu về GTSP và dịch vụ. Thông tin của KTCP cung cấp là công cụ của quản trị để sử dụng tối ưu nguồn lực khan hiếm và giới hạn để làm gia tăng lợi nhuận kinh doanh. Theo Hiệp hội kế toán quản trị công chứng của Anh Quốc (Chartered Institute of Management Accountants- CIMA) (UK): “KTCP là kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí … cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm sản xuất hay một sản phẩm dịch vụ” (M.
Quan niệm này tập trung vào việc xác định nội dung, mục đích của KTCP.VanDerbeck (2010): “KTCP cung cấp thông tin chi phí chi tiết cho nhu cầu quản trị để kiểm soát hoạt động kinh doanh hiện tại và làm kế hoạch cho tương lai”. Quan niệm này tập trung mục đích sử dụng thông tin KTCP và đối tượng sử dụng thông tin KTCP. Theo Bộ môn KTQT- Phân tích HĐKD- Khoa Kế toán- Kiểm toán- Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (2010): “KTCP được hiểu là một bộ phận tách ra từ KTTC và KTQT với trọng tâm cung cấp thông tin chuyên sâu về chi phí, là một lĩnh vực kế toán có liên quan chủ yếu với việc ghi chép, phân tích chi phí để tính giá thành, kiểm soát chi phí, đánh giá tình hình thực hiện chi phí, dự toán chi phí cho kỳ kế hoạch.” Theo Phạm Văn Dược và cộng sự (2010): “Hệ thống kế toán chi phí được dùng để ghi chép, tổng hợp, và báo cáo- cung cấp thông tin chi phí. Việc cung cấp thông tin chi phí cho các nhà quản trị để giúp họ ra quyết định là bộ phận của kế toán được gọi là KTQT hay KTQTCP; Việc cung cấp thông tin chi phí để lập các báo cáo kết quả kinh doanh và các bảng cân đối kế toán là bộ phận của kế toán được gọi là KTCP.” Như vậy, theo quan điểm chức năng thông tin của kế toán, KTCP là một bộ phận của hệ thống kế toán, một mặt thực hiện chức năng phản ánh và cung cấp thông tin chi phí để soạn thảo báo cáo tài chính trong hệ thống KTTC; mặt khác, thực hiện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 chức năng phản ánh và cung cấp thông tin chi phí để thực hiện chức năng quản trị DN trong hệ thống KTQT hay còn gọi là KTQTCP.
Chức năng của KTQTCP Kế toán có hai chức năng là chức năng thông tin và chức năng kiểm tra. KTQTCP là một phần của hệ thống kế toán, do đó KTQTCP cũng có hai chức năng của kế toán là chức năng thông tin và chức năng kiểm tra. Mặt khác, KTQTCP với mục đích là phản ánh và cung cấp thông tin chi phí để thực hiện chức năng quản trị DN, do đó KTQTCP cũng có những chức năng của KTQT. Chức năng của KTQT được gắn kết với chức năng quản trị DN bao gồm các chức năng: Chức năng phản ánh và cung cấp thông tin hoạch định HĐSXKD; chức năng phản ánh và cung cấp thông tin kết quả HĐSXKD; chức năng phản ánh và cung cấp thông tin kiểm tra, đánh giá thực hiện HĐSXKD; chức năng phản ánh và cung cấp thông tin ra quyết định quản trị của nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp.
Theo Phạm Văn Dược và cộng sự (2010): KTCP một mặt thực hiện chức năng KTTC nên chức năng cơ bản của KTQTCP là cung cấp thông tin chi phí để soạn thảo các BCTC; mặt khác, KTCP cung cấp thông tin chi phí cho nhà quản trị để ra quyết định đặc thù nên chức năng cơ bản của KTQTCP là cung cấp thông tin để lập kế hoạch, kiểm soát và định hướng ra quyết định quản trị. Theo Bộ môn KTQT- Phân tích HĐKD- Khoa Kế toán- Kiểm toán- Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (2011): Chức năng của KTCP là tính GTSP, kiểm soát hoạt động, kiểm soát quản lý và kiểm soát chiến lược.VanDerbeck (2010): Chức năng của KTCP là xác định GTSP và giá bán sản phẩm, lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động kinh doanh. Như vậy, KTQTCP có hai chức năng của kế toán là chức năng thông tin và chức năng kiểm tra: Một mặt thể hiện chức năng cung cấp thông tin chi phí để soạn thảo các BCTC; mặt khác thể hiện trên các khía cạnh chức năng quản trị DN, như sau: + Phản ánh và cung cấp thông tin hoạch định/ dự toán CP SXKD (GTSP); + Phản ánh và cung cấp thông tin thực hiện CP SXKD (tính GTSP); + Phản ánh và cung cấp thông tin kiểm tra, đánh giá thực hiện CP SXKD (GTSP); + Phản ánh và cung cấp thông tin ra quyết định quản trị trên cơ sở CP SXKD (GTSP) của nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Vai trò của KTQTCP Xét ở góc độ KTTC, KTCP có chức năng phản ánh và cung cấp thông tin chi phí trên báo cáo tài chính như: (1)Thông tin trị giá hàng tồn kho trên Bảng cân đối kế toán; (2)Thông tin GVHB, CP BH, CP QLDN, CP tài chính và CP khác để tính lãi thuần trên Báo cáo KQHĐKD. Ngoài ra, thông tin KTCP còn cung cấp thông tin về CP SXKD theo yếu tố, 5 yếu tố: CP NVL, CP NC, CP KH TSCĐ, CP dịch vụ mua ngoài và CP khác bằng tiền trên Bản thuyết minh BCTC và điều này cũng quy định trong VAS 21 (đoạn 60), DN phân loại các khoản chi phí theo chức năng cần phải cung cấp những thông tin bổ sung về tính chất của những khỏan chi phí, ví dụ như chi phí khấu hao và chi phí lương công nhân viên. Để giải quyết vấn đề này, kế toán phải dựa trên các nguyên tắc được chấp nhận chung (Ở Việt Nam là Pháp luật kế toán Việt Nam) Xét ở góc độ KTQT, KTCP có chức năng phản ánh và cung cấp thông tin chi phí trên các báo cáo kế toán quản trị như: (1)Thông tin dự toán CP SXKD trên Dự toán kinh doanh (Dự toán ngân sách); (2)Thông tin CP SX, GTSPSX, chi phí HĐKD trên Báo cáo CP SX, GTSPSX, chi phí HĐKD; (3)Thông tin biến động- nguyên nhân CP SX, CP HĐKD trên Báo cáo biến động- nguyên nhân CP SX, chi phí HĐKD; (4)Thông tin đánh giá các trung tâm trách nhiệm trên Báo cáo thành quả của các trung tâm trách nhiệm. (5)Thông tin ra quyết định từ cơ sở chi phí trên báo cáo chứng minh quyết định quản trị: Phân tích mối quan hệ giữa chi phí- khối lượng và lợi nhuận; Xác định giá bán sản phẩm; Phân tích thông tin chi phí để lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định kinh doanh ngắn hạn: Quyết định chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng đặc biệt, quyết định kinh doanh trong điều kiện nguồn lực hạn chế, quyết định mua ngoài hay tự sản xuất, quyết định loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh một bộ phận, quyết định bán hay tiếp tục sản xuất.
(Bộ môn KTQT- Phân tích HĐKD- Khoa Kế toán- Kiểm toán- Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, 2010), (Bộ môn KTQT- Phân tích HĐKD- Khoa Kế toán- Kiểm toán- Trường Đại học Kinh tế TP.