Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp dịch vụ. Chương 3: Phân tích thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Mobile Asia Việt Nam. Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và các giải pháp hoàn thiệnkế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Mobile Asia Việt Nam.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh các dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông di động ảnh hưởng tới kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng 2. Bản chất của dịch vụ và đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ 2. Bản chất của dịch vụ Trong cơ cấu một nền kinh tế hiện đại, khu vực dịch vụ đóng vai trò quan trọng và ngày càng chiếm phần lớn tỉ trọng trong GDP.
Dịch vụ bao hàm tất cả những hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống dân cư, là khu vựcgóp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, nâng cao chất lượng và giá trị các ngành sản xuất; đồng thời cũng là khu vực phục vụ mọi nhu cầu của con người, nâng cao dân trí làm cho đời sống của con người văn minh hơn và từ đó tái tạo sức lao động, nâng cao hiệu quả công việc. Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các yếu tố vô hình, giải quyết các mối quanhệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sựthay đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạmvi của sản phẩm vật chất. Theo khái niệm trên, dịch vụ phải gắn liền với hoạt động tạo ranó.
Các nhân tố cấu thành dịch vụ không phải hàng hóa hữu hình, chúng không tồn tạidưới dạng hiện vật.Dịch vụ là một quá trình hoạt động, quá trình đó diễn ra theo một trình tự bao gồm nhiềukhâu, nhiều bước khác nhau, mỗi khâu là những dịch vụ nhánh hay dịch vụ độc lập vàdịch vụ chính. Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng, một giá trị nào đó. Đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Dịch vụ là ngành kinh tế đặc thù, có nhiều đặc điểm riêng khác với ngành sản xuất vật chất. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ là những doanh nghiệp mang tính đặc thù cao, quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp dịch vụ không phải tạo ra những sản phẩm vật chất có hình dáng cụ thể, mà là quá trình tạo ra giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng là tính có ích mang lại để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu dùng còn giá trịlà lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong dịch vụ đó. Sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp có nhiều đặc trưng phân biệt so với sản phẩm hàng hóa thuần thúy, đó là: Sản phẩm dịch vụ được tạo ra mang tính vô hình, khách hàng không thể sử dụng các giác quan của mình như cầm, nắm, nghe, nhìn, ngửi, nếm để nhận biết trước khi mua dịch vụ mà chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ khi đã sử dụng dịch vụ hoặc từ danh tiếng của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ. Không giống như sản xuất hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khó có thể kiểm tra chất lượng dịch vụ theo một tiêu chuẩn thống nhất bởi sự cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng là khác nhau. Quá trình cung cấp và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời.
Các dịch mà doanh nghiệp cung cấp không thể cất trữ trong kho để điều tiết theo nhu cầu của thị trường. Hoạt động cung cấp dịch vụ được thực hiện khi nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đặc điểm kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông di động 2. Khái quát về dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông di động Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng.Theo Điểm b, Khoản 1, Điều 37 của Pháp lệnh bưu chính viễn thông số 43/2002/PL-UBTVQH-10 định nghĩa: “Dịch vụ giá trị gia tăng là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại 10 hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ,khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet”.
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 9 Nghị định 25/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Viễn thông, dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng bao gồm: - Dịch vụ thư điện tử; - Dịch vụ thư thoại; - Dịch vụ fax gia tăng giá trị; - Dịch vụ truy cập internet; - Các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ thông tin và truyền thông. Hiện nay, mọi người đều biết và sử dụng điện thoại di độngnhư một vật dụng cần thiết cho cuộc sống hiện đại vì vậy các nhà sản xuất không ngừng cho ra đời, phát triển các loại điện thoại đa chức năng để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Cùng với sự phát triển của các loại điện thoại thông minh là sự phát triển hàng loạt các nhà cung cấp dịch vụ và các dịch vụ kèm theo. Trong số các dịch vụ mà nhà cung cấp đưa ra cho người sử dụng chọn lựa thì dịch vụ GTGTtrên điện thoại di động là dịch vụ được nhắm tới hàng đầu về giá trị thương mại.
Khi sử dụng điện thoại di động mỗi người sẽ chọn cho mình một nhà cung cấp mạng như Vinaphone, Mobifone, Viettel, Gtel, Vietnamobile; khi đó, người sử dụng sẽ được cung cấp các dịch vụ cơ bản như gọi đi, nhận cuộc gọi đến, gửi và nhận tin nhắn SMS, hiển thị số điện thoại người gọi đến,… tất cả các dịch vụ này đều miễn phí và được thực hiện tự động trên hệ thống sau khi số thuê bao được hòa mạng. Ngoài các dịch vụ cơ bản được cung cấp miễn phí cho người dùng, các nhà cung cấp còn đưa ra một số dịch vụ như cung cấp thông tin, giải trí như tải hình, nhạc chờ, nhạc chuông, thông tin thời tiết, tham gia các trò chơi trên điện thoại di động,… các dịch vụ này có thu phí và được gọi là các dịch vụ GTGT trên điện thoại di động. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông di động Dịch vụ GTGTtrên điện thoại di động là một loại dịch vụ viễn thông, do đó nó 11 mang đặc điểm chung của dịch vụ và những đặc điểm chung của dịch vụ viễn thông, đó là: quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không chia tách được, không đồng đều về chất lượng, không dự trữ, không chuyển quyền sở hữu. Ngoài ra, dịch vụ GTGTtrên điện thoại di động còn có đặc trưng riêng biệt mang đặc thù của dịch vụ hội tụ - trực tuyến, đó là: được hình thành nhằm mang lại giá trị phụ thêm cho khách hàng, được xây dựng dựa trên nền cơ sở vật chất và nguồn lực vốn có trong việc cung cấp dịch vụ cơ bản, tạo ra khả năng cá nhân hoá các nhu cầu của khách hàng.
Sự phát triển dịch vụ giá trị gia tăng gắn liền với sự phát triển về công nghệ và phụ thuộc nhiều vào trào lưu, thị hiếu của người tiêu dùng, vòng đời một số dịch vụ có thể dài nhưng thời gian kinh doanh có lợi nhuận ngắn, công nghệ thiết kế và xây dựng dịch vụ phát triển từng ngày,dịch vụ GTGTdễ bị ăn cắp ý tưởng. Quy trình công nghệ cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông di động Phát triển dựa trên hạ tầng mạng di động do các đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông (Telcos) xây dựng, quản lý và đưa ra luật chơi, các nhà cung cấp dịch vụ nội dung (CPS-Content Providers) sẽ tiến hành đưa các sản phẩm nội dung của mình đến khách hàng thông qua các đầu số truy cập nhận được từ đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông hoặc thông qua một nhà cung cấp nội dung khác,hai công cụ chủ yếu được đơn vị nghiên cứu sử dụng đó là dịch vụ SMS Gateway và dịch vụ MT Subscription. SMS Gateway (hay còn gọi là dịch vụ đầu số – shortcode – Tổng đài tin nhắn) hiện đang là một hướng phát triển chính và mạnh nhất mà đơn vị nghiên cứu đang tiến hành khai thác.SMS Gateway – Tổng đài tin nhắn là cổng kết nối với tổng đài tin nhắn SMSC của nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động, cho phép các đối tác tổ chức các chương trình (khuyến mại bốc thăm trúng thưởng, bình chọn, download hình ảnh, clip,…) tương tác với khách hàng của mình thông qua việc gửi và nhận tin nhắn. Quy trình công nghệ cung cấp dịch vụSMS Gateway như sau: 12 Khi khách gửi một tin nhắn yêu cầu (được gọi là MO – Mobile Originated) đến đầu số (ví dụ đầu số 7x92), thông qua trạm thu, phát sóng, các Telcos nhận được MO của khách hàng, sau đó sẽ chuyển MO này đến cho nhà cung cấp nội dung (CPS).
Các CPS có nhiệm vụ chuẩn bị nội dung và xây dựng kịch bản tin nhắn để khi nhận được một MO từ Telcos sẽ gửi lại một tin nhắn nội dung (được gọi là MT – Mobile Terminated) từ Database của mình tới Telcos để Telcos gửi đến khách hàng đã yêu cầu. Telcos MT MT MT MO MO MO Sơ đồ 2.1: Quy trình công nghệ cung cấp dịch vụ SMS Gateway – Tổng đài tin nhắn MT Subscription trong ngành dịch vụ GTGT trên điện thoại di động là dịch vụcung cấp thông tin cho khách hàng thông qua các bản tin nội dung được CPS gửi về điện thoại di động của khách hàng định kỳ hàng ngày/tuần/tháng theo gói cước. Để sử dụng dịch vụ,khách hàng chỉ cần đăng ký một lần và dịch vụ sẽ được tự động gia hạn nếu khách hàng không thực hiện thao tác hủy đăng ký. Các nội dung được cung cấp đến cho khách hàng rất đa dạng và phong phú như: truyện cười hàng ngày, bản tin tài chính hằng ngày, lịch chiếu phim theo tuần,… 13 MTi MTi MTi MO MO MO Telcos Sơ đồ 2.