CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT-BTC 1. Khái quát chung về kế toán bán hàng và kết quả bán hàng trong doanh nghiệp sản xuất theo thông tư 200/2014/TT-BTC 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại Hoạt động kinh doanh thương mại là việc thực hiện phân phối, lưu thông hàng hóa từ khâu sản xuất đến với thị trường, cung ứng các dịch vụ thương mại đến người tiêu dùng và giúp xúc tiến thương mại giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc thực hiện các chính sách kinh tế xã hội.
Một số đặc điểm chính của hoạt động kinh doanh thương mại: Về đặc điểm hoạt động: hoạt động kinh tế cơ bản của thương mại là lưu chuyển hàng hóa. Lưu chuyển hàng hóa là sự tổng hợp các hoạt động thuộc các quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ hàng hóa. Lưu chuyển hàng hóa trong kinh doanh thương mại có thể theo một trong hai phương thức là bán buôn và bán lẻ. Về đặc điểm hàng hóa: hàng hóa của hoạt động kinh doanh thương mại gồm các loại vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về (hoặc hình thành từ các nguồn khác) với mục đích để bán sinh lợi cho doanh nghiệp.
Về sự vận động hàng hóa: Sự vận động hàng hóa trong kinh doanh thương mại không giống nhau, tùy thuộc vào nguồn hàng, ngành hàng, do đó chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hóa cũng khác nhau giữa các loại hàng hóa. Khái niệm về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, là quá trình người bán chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền thu tiền ở người mua. Đặc điểm chính của hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp thương mại: - Có sự trao đổi, thoả thuận giữa người mua và người bán: người bán đồng ý bán, người mua đồng ý mua, họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền - Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hoá và có hiệu lực về mặt pháp luật: người bán mất quyền sở hữu, người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua bán. 1 Thư viện ĐH Thăng Long - Hai bên mua - bán trao đổi hàng hoá và đưa- nhận số tiền đúng theo trong hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa hai bên.
Khoản tiền thu được từ hoạt động này được coi là doanh thu bán hàng của doanh nghiệp. Đây là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả bán hàng và cũng là một khoản bù đắp các chi phí mất đi trong quá trình kinh doanh. Xác định kết quả bán hàng là xác định phần chênh lệch giữa doanh thu so với giá vốn và chi phí bán hàng, chi phí quản lí doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó phải bỏ ra trong quá trình bán hàng. Nếu doanh thu bán hàng thuần lớn hơn chi phí thì kết quả doanh thu là lãi, ngược lại nếu doanh thu bán hàng thuần nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lỗ.
Quá trình xác định kết quả bán hàng thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại Việc tổ chức công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng đóng vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp đến sự phát triển của các doanh nghiệp. Nó cung cấp cho các doanh nghiệp thông tin cách chân thực, khách quan, giúp cho doanh nghiệp nắm được mức độ hoàn chỉnh về tình hình kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng. Từ đó, doanh nghiệp có thể hạn chế tối đa sự thất thoát hàng hóa, phát hiện những hàng hóa đang luân chuyển chậm, những thiếu sót trong quá trình mua, bán và dự trữ hàng hóa.
Điều đó giúp cho doanh nghiệp tìm ra được những biện pháp phù hợp để khắc phục những thiếu sót nhằm thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn và tối đa hóa lợi nhuận. Bán hàng và xác định kết quả bán hàng có tầm quan trọng không chỉ với doanh nghiệp mà còn đối với nền kinh tế của quốc gia. Các thông tin kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng giúp các cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát tình hình doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, nhằm đưa ra các chính sách phù hợp tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp. Đồng thời, việc các doanh nghiệp mở rộng quy mô sẽ giúp nâng cao đời sống cho người lao động, cải thiện chất lượng hàng hóa, dịch vụ, giúp cho nền kinh tế được tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.
Thông tin kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp cung cấp cũng nhận được sự quan tâm của những người có lợi ích trực tiếp liên quan đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp như: nhà đầu tư, nhà cung cấp, chủ nợ,…Thông qua đó, những người sử dụng thông tin này có thể đánh giá, phân tích, chẩn đoán được thực 2 trạng kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đưa ra các quyết định kinh doanh kịp thời có lợi nhất cho mình. Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng là quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ công tác bán hàng và kết quả bán hàng. Để quá trình này được đảm bảo thực hiện và phát huy tốt vai trò của mình thì kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cần thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau: - Ghi chép đầy đủ, cập nhật kịp thời tình hình lưu chuyển từng loại hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ cả về mặt số lượng và giá trị. - Tính toán chính xác trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lí doanh nghiệp để xác định kết quả bán hàng.
- Kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi nhuận, nhằm xác định kết quả bán hàng phục vụ việc quản lí và lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Một số khái niệm liên quan đến kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng 1. Doanh thu và điều kiện ghi nhận doanh thu Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng các giá trị kinh tế mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kỳ kế toán cho thị trường tiêu dùng, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu được xác định ngay khi giao dịch được diễn ra và chắc chắn thu về lợi ích kinh tế.
Ngoài ra, doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không tính là đã thu tiền rồi hay chưa. Theo Chuẩn mực kế toán số 14 (VAS 14) “Doanh thu và thu nhập khác” (ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi đáp ứng đồng thời các điều kiện dưới đây: - Quyền sở hữu, kiểm soát và lợi ích kinh tế phải được chuyển giao cho bên mua và bên bán không còn nắm giữ quyền trên. - Doanh nghiệp chuyển giao phần lớn sự rủi ro gắn liền với hàng hoá, dịch vụ cho bên mua. - Xác định được các chi phí liên quan đến quá trình bán hàng.
- Doanh nghiệp đã và sẽ thu được lợi nhuận trong tương lai từ giao dịch bán hàng giữa hai bên. 3 Thư viện ĐH Thăng Long - Doanh thu được xác định tương đối chính xác. Các khoản giảm trừ doanh thu Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, các khoản được ghi giảm trừ vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm: các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại trong kỳ báo cáo. Các khoản giảm trừ doanh thu không bao gồm các khoản thuế gián thu, phí mà doanh nghiệp không được hưởng phải nộp Ngân sách nhà nước do đây là các khoản doanh nghiệp thu hộ nhà nước, không thuộc doanh thu.
Chiết khấu thương mại: là khoản chiết khấu mà doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc các cam kết mua, bán hàng. Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ được doanh nghiệp bên bán chấp nhận một các đặc biệt trên giá đã thoả thuận trong hoá đơn, vì lý do hàng bán bị kém chất lượng, không đúng quy cách hoặc không đúng thời hạn ghi trong hợp đồng. Hàng bán bị trả lại: là số sản phẩm, hàng hoá doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng kinh tế như: hàng kém chất lượng, sai quy cách, chủng loại… Hàng bán bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý do hàng bị trả lại, số lượng hàng bị trả lại, hoá đơn được đính kèm nếu trả lại toàn bộ hoặc bản sao hoá đơn nếu trả lại một phần và đính kèm chứng từ nhập lại kho của doanh nghiệp cho số hàng đó. Các khoản giảm Chiết khấu Giảm giá Hàng bán bị = + + trừ doanh thu thương mại hàng bán trả lại 1.
Doanh thu thuần Doanh thu thuần là chỉ tiêu phản ánh doanh thu bán hàng hoá, thành phẩm, bất động sản đầu tư, doanh thu cung cấp dịch vụ và doanh thu khác đã trừ các khoản giảm trừ doanh thu trong kỳ. làm căn cứ xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh thu bán hàng và Các khoản giảm trừ Doanh thu thuần = - cung cấp dịch vụ doanh thu 4 1. Giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán là giá trị thực tế xuất kho của các sản phẩm, hàng hoá (bao gồm chi phí mua hàng phân bổ cho hàng hoá đã bán trong kỳ đối với doanh nghiệp thương mại).
Lợi nhuận gộp Lợi nhuận gộp là lợi nhuận thu được của doanh nghiệp sau khi lấy doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng bán. Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán 1. Chi phí bán hàng Chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trong kỳ của doanh nghiệp.