CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Tổng quan về Quỹ tín dụng nhân dân 1. Một số tổ chức trung gian tài chính trên thế giới tương tự Một tổ chức trung gian tài chính đứng giữa người cho vay/người tiết kiệm và người vay/người chi tiêu và giúp chuyển vốn từ người này sang người kia, nó thực hiện điều này bằng cách vay vốn của người cho vay/người tiết kiệm và sau đó cho người đi vay, người chi tiêu vay vốn. Tại Hoa Kỳ, các tổ chức nhận tiền gửi là những tổ chức trung gian tài chính, nhận tiền gửi từ các cá nhân, các tổ chức và cho vay: các NHTM, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm tương trợ và các liên hiệp tín dụng.
NHTM huy động vốn trước hết bằng cách phát hành: tiền gửi có thể viết séc được, tiền gửi tiết kiệm (là tiền gửi có thể được rút ngay, nhưng không cho phép người gửi viết séc), và tiền gửi có kỳ hạn (là tiền gửi có kỳ hạn thanh toán định trước). Sau đó, các ngân hàng dùng vốn huy động cho vay: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp mua bất động sản và để mua chứng khoán chính phủ Mỹ, trái phiếu của chính quyền địa phương. Hiệp hội cho vay và tiết kiệm (S&L): các nguồn vốn hàng đầu của các hiệp hội này là các tiền gửi tiết kiệm (thường còn gọi là các cổ phần), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi viết séc được. Theo truyền thống, các tiền vốn huy động được dùng để vay thế chấp mua bất động sản.
Các khoản cho vay thế chấp mua bất động sản là các khoản vay dài hạn, với kỳ hạn thanh toán nói chung hầu hết là 29 năm. Cũng như các NHTM, ngày nay các S & L chịu những yêu cầu nộp tiền gửi tại Cục Dự trữ Liên bang. Kết quả thực sự của các sửa đổi pháp lý này là xóa dần sự khác biệt giữa các S & L và các NHTM, và những tổ chức trung gian tài chính này sẽ trở thành các đối thủ cạnh tranh lẫn nhau trong tương lai. Liên hiệp tín dụng (Credit Unions).
Đây là các tổ chức cho vay rất nhỏ có tính chất hợp tác xã được tổ chức xung quanh một nhóm xã hội đặc biệt: các thành 11 viên của một liên hiệp là các người làm công của một công ty nào đó,… Họ thu nhận vốn từ các khoản tiền gửi và trước hết là thực hiện các khoản cho vay. Với đạo luật ban hành về hoạt động ngân hàng năm 1980, các liên hiệp tín dụng cũng được phép phát hành các khoản gửi có thể viết séc và có thể thực hiện các khoản cho vay thế chấp mua bất động sản bên cạnh các khoản cho vay tiêu dùng. Hợp tác xã (HTX) là một loại hình kinh tế tập thể khá phổ biến, hoạt động trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội và hiện diện ở các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau. Đến nay HTX vẫn tỏ ra là mô hình hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Thông qua HTX, các hộ nông dân, các doanh nghiệp nhỏ hợp tác với nhau, tăng sức mạnh để đối phó với khó khăn và tránh các nguy cơ thua lỗ cao. Châu Âu có gần 290.000 HTX với 140 triệu thành viên. Liên minh châu Âu (EU) có khoảng 30.000 HTX nông nghiệp. Các HTX nông nghiệp lớn nhất hoạt động trong các ngành chế biến bơ sữa, thịt và thương mại nông nghiệp.
Lĩnh vực ngân hàng cũng là nơi các HTX có thị phần lớn (Thí dụ Rahobank của Hà Lan, Credit Agricole của Pháp và các ngân hàng Raiffsisen của các nước nói tiếng Đức). Các HTX bán lẻ rất mạnh ở các nước Bắc Âu (S Group và Scandinavian Coop Norden của Phần Lan) và Thụy sỹ.000 HTX với khoảng 150 triệu thành viên. Ở Nhật Bản, HTX là nhân tố tích cực, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế. Các loại hình tổ chức HTX ở Nhật Bản bao gồm: HTX nông nghiệp và HTX tiêu dùng.
Ở Ấn Độ, HTX đã ra đời từ rất lâu và trở thành lực lượng vững mạnh, tham gia hầu hết các hoạt động kinh tế của đất nước. Người nông dân coi HTX là phương tiện để tiếp nhận tín dụng, các yếu tố “đầu vào” và các dịch vụ cần thiết cho sản xuất nông nghiệp. Chính phủ Ấn Độ còn khuyến khích sự phát triển của khu vực HTX thông qua xúc tiến xuất khẩu; sửa đổi luật HTX; tạo điều kiện cho các HTX tự chủ và năng động hơn; chấn chỉnh hệ thống tín dụng HTX; thiết lập mạng lưới thông tin hai chiều giữa những người nghèo nông thôn với các tổ chức HTX; bảo đảm trách nhiệm của các liên đoàn HTX đối với các HTX thành viên. Ở Thái Lan, một số mô hình HTX tiêu biểu là HTX nông nghiệp và HTX tín dụng.
Hoạt động của HTX tín dụng Thái Lan nhằm đáp ứng nhu cầu xã viên về các 12 lĩnh vực: khuyến khích gửi tiền tiết kiệm của các xã viên; góp cổ phần; cung cấp các dịch vụ vay cho xã viên… HTX tín dụng nông thôn được thành lập từ lâu. Do hoạt động của HTX trong lĩnh vực này có hiệu quả, nên hàng loạt HTX tín dụng đã ra đời trên khắp đất nước. Bên cạnh đó, sự phát triển của HTX tiêu dùng, các loại HTX công nghiệp cũng phát triển mạnh và trở thành một trong những yếu tố quan trong trong sự phát triển kinh tế của Thái Lan. Quỹ tín dụng Quỹ tín dụng là một hình thức hợp tác xã tài chính dựa nhiều vào liên kết xã hội và mối quan hệ giữa các thành viên.
Các quỹ tín dụng có sứ mệnh xã hội là phục vụ những người dễ bị tổn thương, nhưng chúng cũng đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng, xã hội, và nền kinh tế. Mặc dù cũng giống như các ngân hàng hợp tác xã ở nhiều mặt, nhưng quỹ tín dụng đưa ra nhiều hình thức cung ứng tài chính riêng biệt được chứng minh là thành công ở nhiều quốc gia. Quỹ tín dụng có lịch sử hình thành và phát triển từ rất sớm (Đức, Anh, Pháp… vào nửa cuối thế kỷ 19, Canada và Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20). Theo số liệu thống kê đến năm 2011 của Hội đồng Quỹ tín dụng Thế giới đã có sự tham gia của 196 triệu thành viên/ 51.000 Quỹ tín dụng của trên 100 nước tham gia và quản lý khối tài sản giá trị hơn 1,5 nghìn tỷ đô la Mỹ.
Xuất phát từ những đòi hỏi khách quan và thực tiễn của thị trường vốn cho nhu cầu phát triển sản xuất ở nông thôn, Chính phủ đã thiết lập một mô hình tín dụng hợp tác mới thích hợp với tình hình kinh tế thị trường ở nông thôn, đó chính là hệ thống QTDND - chính thức hoạt động từ năm 1993 tại Việt Nam. Tổ chức tín dụng là hợp tác xã là loại hình tổ chức tín dụng được tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. Tổ chức tín dụng là hợp tác xã gồm ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận, tên gọi khác nhau, song đều có sự thống nhất về khái niệm QTDND với nội dung: QTDND tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm 13 dịch vụ ngân hàng do các thành viên tự nguyện góp vốn thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống chủ yếu trong khu vực nông nghiệp và nông thôn.
QTDND và NHTM đều là những tổ chức tài chính trung gian, có những đặc điểm, chức năng của tổ chức tài chính trung gian. Sở hữu của NHTM là sở hữu tư nhân theo mức vốn góp, sở hữu của QTDND là sở hữu tập thể cổ phần, tài sản thuộc về tất cả thành viên. Ở NHTM, công việc được biểu quyết theo số cổ phần của cổ đông, các cổ đông lớn nắm quyền kiểm soát. Trong khi đó, ở QTDND quyền kiểm soát thuộc tất cả các thành viên, mỗi thành viên được 1 phiếu biểu quyết bình đẳng.
Mục đích hoạt động của NHTM là vì lợi nhuận, của QTDND là sự tương trợ giữa các thành viên, phục vụ sản xuất và nâng cao đời sống thành viên. Trong nguyên tắc thu chi, NHTM hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi, có lãi càng nhiều càng tốt; QTDND bù đắp chi phí, có tích lũy để phát triển tương lai. NHTM có phạm vi hoạt động rộng khắp, tất cả các tổ chức, cá nhân đều có thể tham gia, và được vay vốn ngân hàng. QTDND có phạm vi hoạt động hẹp, chỉ gói gọn ở phạm vi phường, xã và chỉ những người cư trú và sản xuất kinh doanh trên địa bàn phường, xã tham gia làm thành viên và được vay vốn.
Các kênh huy động vốn của QTDND được giới hạn lại so với NHTM, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của QTDND cũng chủ yếu để phục vụ các thành viên ở một số nghiệp vụ đơn giản. QTDND có vai trò thực hiện chu chuyển nguồn lực tài chính từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ tiết kiệm sang đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển, nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn; góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế thành viên và tăng cường tính liên kết cộng đồng dân cư, xoá đói giảm nghèo và hạn chế cho vay nặng lãi. Sự hình thành và phát triển hệ thống QTDND giúp cho thị trường tiền tệ trên địa bàn nông thôn phát triển hơn, đa dạng hơn trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Nguyên tắc hoạt động 14 - Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân và các đối tượng khác có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật đều có thể trở thành thành viên QTDND, thành viên cũng có quyền ra khỏi QTDND.
- Dân chủ, bình đẳng và công khai: thành viên QTDND có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát QTDND và có quyền ngang nhau trong biểu quyết, các thành viên được toàn quyền quản lý, quyết định các vấn đề của QTDND trong khuôn khổ điều lệ hợp pháp và theo các quy định của pháp luật.