Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nội dung của chương này sẽ đề cập tới tính cấp thiết của đề tài, tổng quan nghiên cứu thực tiễn cũng như mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. 14 Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động quản trị vận chuyển trong chuỗi cung ứng Sinh viên đã hệ thống hóa khái niệm, vai trò, đặc điểm, các thành phần tham gia của vận chuyển trong chuỗi cung ứng; nội dung quản trị vận chuyển và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động này. Những lý luận này sẽ là nền tảng giúp định hướng cho nội dung quản trị vận chuyển của doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng hoạt động quản trị vận chuyển trong chuỗi cung ứng của Công ty Cổ phần Tập đoàn Mavin Nội dung chương này sẽ đi sâu vào việc tìm hiểu về hoạt động quản trị vận chuyển đối với mặt hàng heo và thức ăn chăn nuôi, từ đó đưa ra đánh giá khách quan về những thành công mà tập đoàn Mavin đã đạt được cùng với những bất cập còn tồn tại trong hoạt động quản trị vận chuyển.
Chương 4: Đề xuất giải pháp đối với hoạt động quản trị vận chuyển trong chuỗi cung ứng của Công ty Cổ phần Tập đoàn Mavin Dựa vào tình hình thực tế của công ty song song với việc dự báo những thay đổi của thị trường trong tương lai, khóa luận tốt nghiệp đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị vận chuyển của doanh nghiệp. 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về vận chuyển trong chuỗi cung ứng 2. Khái niệm, vai trò, vị trí của vận chuyển 2.
Khái niệm về chuỗi cung ứng Cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động nội bộ mà còn tham gia vào các hoạt động kinh doanh cùng với nhà cung cấp và khách hàng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp chú trọng hơn tới dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, thiết kế, đóng gói sản phẩm cũng như cách thức vận chuyển, bảo quản hàng hóa, cùng với việc hiểu rõ nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng, hay nói một cách khác là phải tham gia tích cực vào các chuỗi cung ứng (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2021). Thực tế có rất nhiều quan điểm về chuỗi cung ứng. Theo góc độ học thuật, Christopher (1992) cho rằng: “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết xuôi và ngược, bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo nên giá trị cho sản phẩm hoặc dịch vụ có được đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng”.
Có quan điểm cho rằng: “Chuỗi cung ứng là một hệ thống các tổ chức, con người, thông tin, hoạt động và các nguồn lực liên quan tới công tác chuyển sản phẩm/ dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của khách hàng” (Govil & Proth, 2002). Trong bài nghiên cứu này, KLTN tiếp cận khái niệm về chuỗi cung ứng theo góc độ doanh nghiệp như sau: “Chuỗi cung ứng là tập hợp các doanh nghiệp hoặc tổ chức tham gia trực tiếp và gián tiếp vào các quá trình tạo ra, duy trì và phân phối một loại sản phẩm nào đó cho thị trường” (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2021). Khái niệm vận chuyển trong chuỗi cung ứng Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa diễn ra trên quy mô lớn và trải rộng trên khắp thế giới. Từ đó, nhu cầu vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng, bởi vận chuyển là cầu nối giữa sản xuất và tiêu thụ, giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng.
An Thị Thanh Nhàn & ctg (2018) cho rằng: “Vận chuyển là sự di chuyển hàng hóa trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận tải nhằm thực hiện các yêu cầu của mua bán, dự trữ trong quá trình sản xuất - kinh doanh”. Trên thực tế, khi so sánh giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển thì có thể thấy được vai trò của vận chuyển hàng hóa trong việc tạo ra trình 16 độ kinh tế phát triển cao. Hay nói một cách khác, một hệ thống vận chuyển hiệu quả với chi phí thấp và năng động sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên thị trường toàn cầu, tăng tính hiệu quả của sản xuất và giảm giá cả hàng hóa (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2018). Vai trò của vận chuyển Dưới góc độ chức năng quản trị logistics trong doanh nghiệp, hoạt động vận chuyển hàng hóa được ví như sợi chỉ liên kết các tác nghiệp sản xuất - kinh doanh tại các địa bàn khác nhau của doanh nghiệp.
Vận chuyển để cung cấp nguyên vật liệu, bán thành phẩm và hàng hóa đầu vào cho các cơ sở trong mạng lưới logistics. Vận chuyển để cung ứng hàng hóa tới khách hàng đúng thời gian và địa điểm họ yêu cầu, đảm bảo an toàn hàng hóa trong mức giá thỏa thuận. Từ đó, vận chuyển đóng góp một phần vào giá trị gia tăng cho sản phẩm của doanh nghiệp. Bởi nếu vận chuyển chậm trễ hoặc hàng hóa đến vào những thời điểm không thích hợp sẽ gây phiền phức cho khách hàng và có thể làm tăng thêm chi phí dự trữ.
Do vậy, vận chuyển hàng hóa phải thực hiện cả hai nhiệm vụ logistics trong doanh nghiệp, đó là nâng cao chất lượng dịch vụ logistics và giảm tổng chi phí của toàn bộ hệ thống (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2018). Vị trí của vận chuyển trong chuỗi cung ứng Logistics là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty (các xưởng sản xuất, các cơ sở trong công ty) trong một chuỗi thống nhất. Các hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, vận chuyển và bảo quản hàng hóa…) được liên kết với nhau để thực hiện các mục tiêu trong chuỗi cung ứng (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2018). Bên cạnh đó, hoạt động quản trị vận chuyển lại là một phần trong tam giác chiến lược logistics, cùng với hoạt động thiết kế mạng lưới, cơ sở logistics và quản trị dự trữ hàng hóa tác động tới dịch vụ và chi phí của một doanh nghiệp (Hình 2.
Tam giác chiến lược logistics Nguồn: An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2018 17 Bất kỳ lợi lợi thế cạnh tranh nào của doanh nghiệp nói chung và của logistics nói riêng cũng đều có mối liên hệ mật thiết với hệ thống vận chuyển hàng hóa hợp lý (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2018). Như vậy, hoạt động vận chuyển có vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược chuỗi cung ứng. Đặc điểm của hoạt động vận chuyển Vận chuyển hàng hóa là sản phẩm dịch vụ nên khác với sản phẩm vật chất khác, vì thế, vận chuyển hàng hóa có các đặc điểm nổi bật như sau: Tính không hiện hữu (tính vô hình), bởi vận chuyển là hình thức cung cấp dịch vụ vận chuyển, người ta không thể nhìn thấy, cảm nhận và nghe thấy được,.trước khi mua nó. Người ta không thể biết trước được là chuyến hàng đó có được vận chuyển đúng lịch trình hay không, có đảm bảo an toàn hay không và có đến đúng địa điểm hay không… cho tận tới khi nhận được hàng (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2018).
Tính không thể tách rời, việc sản xuất và tiêu thụ dịch vụ này diễn ra đồng thời về mặt không gian và thời gian, tức là quá trình cung cấp dịch vụ và quá trình sử dụng dịch vụ diễn ra đồng thời, không thể tách rời về không gian và thời gian. Tính không ổn định, chất lượng dịch vụ vận chuyển thường không ổn định do bị tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Bên cạnh những yếu tố không kiểm soát được như điều kiện thời tiết, điều kiện giao thông thì những yếu tố khác nhau người lái xe, chất lượng phương tiện, bến bãi… cũng gây tác động không nhỏ tới tính không ổn định của dịch vụ vận tải (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2018). Tính không lưu giữ được, do nhu cầu về vận chuyển hàng hóa thường có dao động rất lớn, mà dịch vụ vận chuyển hàng hóa không thể được sản xuất hàng loạt và lưu kho như các sản phẩm vật lý thông thường.
Trong thời kỳ cao điểm thì đơn vị vận tải cần có nhiều phương tiện hơn gấp bội để đảm bảo phục vụ. Ngược lại, khi vắng khách vẫn phải tốn các chi phí cơ bản về khấu hao tài sản, duy tu bảo dưỡng phương tiện, chi phí quản lý,. Các thành phần tham gia vận chuyển trong chuỗi cung ứng Dịch vụ vận chuyển hàng hóa là một loại sản phẩm đặc biệt, có nhiều thành phần tham gia, bao gồm: người gửi hàng, người nhận hàng, đơn vị vận tải, chính phủ và công chúng. Dưới đây mô tả cụ thể các thành phần tham gia như sau: Người gửi hàng (shipper): Là người có hàng và có nhu cầu vận chuyển hàng hóa tới địa điểm nhất định trong khoảng thời gian xác định.
Người nhận hàng (consignee): Là người yêu cầu được chuyển hàng hóa đến 18 đúng địa điểm, đúng thời gian, đúng số lượng, chất lượng và cơ cấu với mức giá thỏa thuận như theo đơn đặt hàng đã thông báo với người gửi. Đơn vị vận tải (carrier): Là các tổ chức kinh doanh và cung cấp dịch vụ vận tải chuyên nghiệp với mục tiêu lợi nhuận, họ là chủ sở hữu và vận hành các phương tiện vận tải (ô tô, máy bay, tàu hỏa, tàu thủy,.) vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và nhanh chóng hoàn trả vốn đầu tư. Chính phủ: Thường là người đầu tư và quản lý hệ thống hạ tầng cơ sở giao thông cho con đường vận chuyển và các điểm dừng đỗ phương tiện vận chuyển. Công chúng: Là thành phần hưởng lợi từ các lợi ích của vận chuyển hàng hóa và cũng bị nhưng tác động tiêu cực rất mạnh tới môi trường sống và mức độ an toàn xã hội và kinh tế do hoạt động vận chuyển hàng hóa nói riêng và giao thông vận tải nói chung gây ra.
Các thành phần tham gia vào hệ thống vận chuyển hàng hóa tại doanh nghiệp sản xuất có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Mỗi chủ thể tham gia vào hệ thống cần trao đổi, thống nhất để xây dựng được chu trình vận chuyển hàng hóa hợp lý, thuận lợi, đảm bảo chi phí và lợi nhuận của mỗi bên. Hoạt động quản trị vận chuyển tại doanh nghiệp cần đặt trong mối quan hệ giữa các bên trong hệ thống này (An Thị Thanh Nhàn & ctg, 2018). Nội dung quản trị vận chuyển 2.