PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam đã và đang từng bước tiến vào hội nhập kinh tế toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện thuận lợi và quan trọng cho nền kinh tế nước ta phát triển, nhưng bên cạnh đó nền kinh tế thị trường với những quy luật khắc nghiệt của nó cũng có những ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các DNSX Việt Nam. Để nâng cao năng lực hoạt động, năng lực cạnh tranh, nhà quản trị DN phải có năng lực quản lý, điều hành các hoạt động của DN, đảm bảo DN đi đúng hướng và đạt được mục tiêu đề ra.
Để đạt được những điều đó, DN cần sử dụng các công cụ quản lý, trong đó có một công cụ hết sức quan trọng là hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT). HTTTKT cung cấp những thông tin cần thiết về hoạt động kinh tế tài chính của DN một cách chính xác và kịp thời cho các đối tượng có nhu cầu. Một HTTTKT hiệu quả được tổ chức hợp lý sẽ cung cấp những thông tin phù hợp, đáp ứng cao nhất nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin kế toán. HTTTKT có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mọi DN, trong đó có các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) thép.
Ngành thép Việt Nam hiện nay đã có nhiều cố gắng tập trung đầu tư phát triển, đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, đầu tư xây dựng các nhà máy có quy mô lớn. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành cũng bộc lộ những khó khăn và hạn chế, như: Năng lực sản xuất phôi thép quá nhỏ bé, theo hiệp hội thép Việt Nam, lượng phôi thép cần cho các DN khoảng 8,5 triệu tấn và lượng phôi thép có thể đáp ứng từ sản xuất trong nước khoảng 6,5 triệu tấn; Quy mô sản xuất nhỏ, năm 2015 hơn 2/3 nhà máy thép sử dựng công nghệ lạc hậu, phần lớn các DN lại tập trung vào khâu nhập phôi về để cán thép, chỉ có số ít có đầu tư từ khâu thượng nguồn đến hạ nguồn để luyện và cán thép sản phẩm. Nhiều DN sử dụng lò dung tích nhỏ (chưa tới 100m3), thấp hơn nhiều so với bình quân hàng nghìn m3 của Nhật Bản và Trung Quốc. Từ đó, làm chochi phí sản xuất lớn, dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp, khả năng xuất khẩu hạn chế, hiệu quả SXKD chưa cao.
Trên thực tế, vai trò HTTTKT trong các DNSX thép hiện nay chưa được phát huy hiệu quả. HTTTKT 2 chưa phản ánh đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin cần thiết để đáp ứng được nhu cầu sử dụng thông tin đa dạng của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. HTTTKT trong các DNSX thép chủ yếu mới chỉ tập trung cho việc thiết lập, cung cấp thông tin của kế toán tài chính, còn hệ thống thông tin kế toán quản trị chưa được quan tâm khai thác, do đó nguồn thông tin mà các DNSX thép cung cấp chưa mang lại hiệu quả cho các hoạt động của DN. Vì vậy, việc hoàn thiện HTTTKT trong các DNSX thép sẽ là một vấn đề cần thiết, mở ra hướng mới giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn cho hướng phát triển của doanh nghiệp mình.
Xuất phát từ lý do này, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc Tổng công ty thép Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu sinh của mình. Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước 2. Các công trình nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán Hệ thống thông tin kế toán đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, trên góc độ kế toán tài chính (KTTC), kế toán quản trị (KTQT) hoặc kết hợp KTTC và KTQT. Hiện nay, các công trình nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán chủ yếu theo ba cách tiếp cận, đó là: tiếp cận theo tiến trình xử lý thông tin của HTTTKT; tiếp cận theo các yếu tố cấu thành của HTTTKT và tiếp cận về áp dụng các phương tiện kỹ thuật trong HTTTKT.
Nghiên cứu HTTTKT theo tiến trình xử lý thông tin Nghiên cứu HTTTKT theo tiến trình xử lý thông tin các tác giả trong và ngoài nước đều đồng thuận quan điểm cho rằng HTTTKT bao gồm quá trình thu thập thông tin, xử lý thông tin và phân tích thông tin theo các phương pháp đã được xác định, từ đó cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng. Tác giả Hoàng Văn Ninh (2010), khi nghiên cứu về “Tổ chức hệ thống thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”, tác giả đứng trên quan điểm tổ chức HTTTKT trong các tập đoàn kinh tế để phục vụ công tác quản lý,tác giả cho rằng tổ chức HTTTKT bao gồm tổ chức thu thập thông tin kế toán, tổ chức xử lý và sử dụng thông tin kế toán, tổ chức phân tích và cung cấp thông tin kế toán. Từ đó, tác giả xác định thực trạng tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong 3 các tập đoàn kinh tế và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin kế toán trong các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam. Như vậy, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu HTTTKT đối với các DN là công ty con của các tập đoàn kinh tế, tính ứng dụng đối với các DN không nằm trong tập đoàn kinh tế còn hạn chế [22].
Tác giả Trần Thị Nhung (2016) với nghiên cứu“Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán quản trị tại các doanh nghiệp chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”, đã cho thấy rõ quá trình hoạt động của HTTTKT. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ nghiên cứu sâu về HTTT kế toán quản trị, mà không nghiên cứu về HTTT kế toán tài chính. Các giải pháp đưa ra mới chỉ để hoàn thiện HTTT kế toán quản trị, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của các DN. Như vậy, việc cung cấp thông tin mới chỉ đáp ứng cho đối tượng là các nhà quản lý, còn các đối tượng sử dụng khác không được đề cập đến [21].
Gần nhất về thời gian và nội dung nghiên cứu về HTTTKT có tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy (2017) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các công ty cổ phần xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Tác giả đi sâu nghiên cứu HTTTKT trên cả hai góc độ KTTC và KTQT, tác giả đã làm rõ những ảnh hưởng của HTTTKT đối với các đối tượng sử dụng thông tin cụ thể bên trong và bên ngoài DN. Tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu trong loại hình DN đặc biệt, đó là các DN xây lắp có niêm yết trên thị trường chứng khoán, tính ứng dụng trong các loại hình DN khác còn hạn chế [32]. Ngoài các công trình nghiên cứu trong nước ra thì các công trình nghiên cứu nước ngoài cũng có một số tác giả nghiên cứu HTTTKT theo cách tiếp cận này, như tác giả Hongjiang Xu, trường Đại học Southern Queensland, Australia với luận án “Critical Success Factors for Accounting Information Systems Data Quality ” (2003).
Tác giả nghiên cứu các yếu tố thành công quan trọng đối với chất lượng dữ liệu trong HTTTKT. Tác giả cho rằng chất lượng thông tin là rất quan trọng cho sự thành công của tổ chức, trong môi trường cạnh tranh ngày càng cao. Để có được hệ HTTTKT tốt thì thông tin dữ liệu đòi hỏi phải có chất lượng cao. Điều đó liên quan đến là phân tích, xử lý thông tin, lưu trữ thông tin, quản lý thông tin, người sử dụng thông tin, và các kiểm toán viên nội bộ [46].
Tác giả Senin (2011) với nghiên cứu “The purpose of Management Accounting 4 Information and Process of Management Accounting” cho rằng quy trình HTTTKT bao gồm quá trình thu thập, đo lường, lưu trữ, phân tích, cung cấp thông tin và kiểm soát thông tin. HTTTKT trong một đơn vị bao gồm hai hệ thống con đó là HTTT kế toán tài chính và HTTT kế toán quản trị. Trong đó, HTTT kế toán tài chính liên quan đến cung cấp thông tin đầu ra cho người dùng bên ngoài đơn vị. HTTT kế toán tài chính sử dụng các dữ liệu đầu vào và quy trình phù hợp với các quy tắc của Chuẩn mực Kế toán Tài chính (FASB).
Mục tiêu tổng thể là cung cấp các báo cáo bên ngoài / báo cáo tài chính cho các nhà đầu tư, chủ nợ, nhà nước và các đối tượng bên ngoài khác. Còn HTTT kế toán quản trị thu thập, đo lường, phân loại và báo cáo cho người dùng nội bộ trong việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định. Người quản lý được tự do lựa chọn bất cứ thông tin gì họ muốn cung cấp, nó có thể được xác định trên cơ sở chi phí- lợi ích [61]. Đồng tình với các quan điểm trên, nhóm tác giả Marija Tokic, Mateo Spanja, Iva Tokic, Ivana Blazevic (2011) với nghiên cứu “Functional structure of entepreneurial accouting information systems”cho rằng mô hình của HTTTKT là quá trình thu thập dữ liệu, phân tích, xử lý theo các nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán, chính sách kế toán, các phương pháp kế toán, các công cụ ghi chép để thu thập các thông tin kế toán, cung cấp thông tin cho nhu cầu của nhiều người sử dụng, đặc biệt là các cơ quan nhà nước, nhà nước, bên cho vay, nhà cung cấp, hiệp hội, ban giám sát, cổ đông và những người khác [51].
Các công trình nghiên cứu nói trên là cơ sở để tác giả kế thừa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về HTTTKT theo tiến trình xử lý thông tin, bao gồm các quá trình thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin kế toán. Từ đó, tác giả đi nghiên cứu thực trạng về vấn đề này trong các DN khảo sát. Nghiên cứu HTTTKT theo các yếu tố cấu thành của HTTTKT Các nghiên cứu HTTTKT theo các yếu tố cấu thành của HTTTKT ở Việt Nam gần đây có một số công trình như của tác giả Nguyễn Hữu Đồng (2012) nghiên cứu về “Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các trường Đại học công lập Việt Nam”. Trong nghiên cứu, tác giả cho rằng cấu trúc của HTTTKT bao gồm bộ máy kế toán, phương tiện kỹ thuật, hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ 5 sách, báo cáo kế toán, các quá trình kế toán cơ bản và hệ thống kiểm soát kế toán.