Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện hệ thống chỉ số KPI tại CTCP Phát triển Nam Sài Gòn (SADECO)

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích và hoàn thiện hệ thống chỉ số KPI, đánh giá hiệu quả công việc tại CTCP phát triển Nam Sài Gòn Sadeco.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2019

108
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ VÀ KPI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

1.1. Các khái niệm liên quan

1.2. Mối liên hệ giữa KPI với BSC, CFS và các mục tiêu chiến lược

1.3. Mối liên hệ giữa KPI và chế độ khen thưởng

1.4. Những yếu tố cần thiết để xây dựng KPIs hiệu quả

1.5. Kinh nghiệm khắc phục những vấn đề phát sinh khi triển khai KPI

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI HỆ THỐNG KPI TẠI CTCP PHÁT TRIỂN NAM SÀI GÒN

2.1. Tổng quan hoạt động áp dụng KPI tại Công ty SADECO

2.2. Đối tượng áp dụng

2.3. Mục tiêu của việc thực hiện hệ thống KPI

2.4. Ban Kiểm soát KPI

2.5. Mô tả cách thức xây dựng KPI tại Công ty SADECO

2.6. Phân loại, phân cấp thẩm quyền đánh giá, phê duyệt KPI

2.7. Cách thức xây dựng KPI tại Công ty SADECO

2.8. Đánh giá kết quả thực tế

2.9. Mô tả kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trước và sau quá trình triển khai KPI

2.10. Những hạn chế và vấn đề tồn tại

2.11. Xác định nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KPI TẠI CTCP SADECO

3.1. Xây dựng và củng cố những yếu tố nền cho việc triển khai KPI

3.2. Xây dựng mục tiêu chiến lược Công ty SADECO

3.3. Xây dựng chỉ số KPI

3.4. Một số vấn đề cần lưu ý khi lập chỉ số chi tiết

3.5. Áp dụng phương án đề xuất đánh giá lại KPI năm 2018

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống KPI tại SADECO và tầm quan trọng của nó

Hệ thống KPI (Chỉ số đo lường hiệu suất cốt yếu) đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả công việc tại Công ty Cổ phần Phát triển Nam Sài Gòn (SADECO). Việc áp dụng KPI giúp công ty xác định rõ các mục tiêu chiến lược và theo dõi tiến độ thực hiện. Tuy nhiên, việc triển khai hệ thống này cũng gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc đảm bảo tính chính xác và khách quan của các chỉ số đánh giá.

1.1. Khái niệm và vai trò của KPI trong quản lý hiệu suất

KPI là công cụ giúp đo lường hiệu suất công việc, từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp. Việc hiểu rõ khái niệm này là cần thiết để áp dụng hiệu quả tại SADECO.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống KPI tại SADECO

SADECO đã bắt đầu triển khai hệ thống KPI từ năm 2017 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, quá trình này không diễn ra suôn sẻ và gặp nhiều khó khăn.

II. Những thách thức trong việc áp dụng hệ thống KPI tại SADECO

Mặc dù hệ thống KPI được thiết lập với mục tiêu nâng cao hiệu quả công việc, nhưng thực tế cho thấy nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình áp dụng. Các phòng ban thường gặp khó khăn trong việc đạt được các chỉ tiêu KPI đã đề ra.

2.1. Khó khăn trong việc xác định chỉ tiêu KPI phù hợp

Việc xác định các chỉ tiêu KPI chưa thực sự phù hợp với thực tế hoạt động của SADECO, dẫn đến việc khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả công việc.

2.2. Tác động của việc gắn KPI với chế độ lương thưởng

Việc liên kết hệ thống KPI với chế độ lương thưởng có thể tạo ra áp lực không cần thiết cho nhân viên, dẫn đến việc đánh giá không chính xác.

III. Phương pháp cải thiện hệ thống KPI tại SADECO

Để nâng cao hiệu quả của hệ thống KPI, SADECO cần áp dụng một số phương pháp cải tiến. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện quy trình đánh giá mà còn tạo ra môi trường làm việc tích cực hơn.

3.1. Xây dựng chỉ tiêu KPI rõ ràng và cụ thể

Các chỉ tiêu KPI cần được xây dựng rõ ràng, cụ thể và có thể đo lường được để đảm bảo tính khả thi trong việc thực hiện.

3.2. Đào tạo nhân viên về hệ thống KPI

Đào tạo nhân viên về cách thức hoạt động của hệ thống KPI sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về mục tiêu và cách thức đạt được các chỉ tiêu đề ra.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về KPI tại SADECO

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng hệ thống KPI đã mang lại một số kết quả tích cực cho SADECO. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để tối ưu hóa hiệu quả của hệ thống này.

4.1. Kết quả đạt được sau khi áp dụng KPI

SADECO đã ghi nhận một số cải thiện trong hiệu suất công việc, nhưng vẫn chưa đạt được kỳ vọng ban đầu.

4.2. Những vấn đề tồn tại cần khắc phục

Mặc dù có những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại trong việc áp dụng KPI mà SADECO cần khắc phục để nâng cao hiệu quả.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho hệ thống KPI tại SADECO

Hệ thống KPI tại SADECO cần được hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc cải tiến này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả công việc mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực hơn cho nhân viên.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải tiến hệ thống KPI

Cải tiến hệ thống KPI là cần thiết để đảm bảo rằng các chỉ số đánh giá thực sự phản ánh hiệu quả công việc của nhân viên.

5.2. Định hướng phát triển hệ thống KPI trong tương lai

SADECO cần xác định rõ định hướng phát triển hệ thống KPI trong tương lai để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả trong hoạt động.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh hoàn thiện hệ thống chỉ số kpi trong việc đánh giá hiệu quả thực hiện công việc tại ctcp phát triển nam sài gòn sadeco

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu: Giới thiệu Công ty và vấn đề cần nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu đề tài Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả và KPI đánh giá hiệu quả hoạt động của CTCP SADECO Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hệ thống KPI đang triển khai tại CTCP SADECO Chƣơng 3: Giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ số KPI KPI tại CTCP SADECO Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ VÀ KPI ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm về yếu tố thành công cốt yếu (CFS) Theo Rockart (1979), các “yếu tố thành công cốt yếu” (Critical Success Factors - CSF) là một trong số rất ít những nội dung quan trọng, bao gồm những việc “bắt buộc phải làm đúng (must go right)”, mà nếu được thực hiện đầy đủ sẽ đảm bảo tính cạnh tranh cho tổ chức. Trái lại, nếu những nội dung này không được thực hiện đầy đủ, các nỗ lực của tổ chức trong khoảng thời gian tương tự sẽ đạt được ít kết quả hơn kỳ vọng.

Theo Boynton và Zmud (1984), các yếu tố thành công cốt yếu CSF là một số rất ít những điều trọng yếu mà các tổ chức cần phải thực hiện tốt nhằm đảm bảo đạt được thành công trong việc quản lý tổ chức đó. CSF cũng bao gồm những vấn đề trọng yếu liên quan đến quá trình hoạt động trong hiện tại hoặc có tác động đến thành công trong tương lai của tổ chức. Vì vậy, các doanh nghiệp càng phải càng đặc biệt chú trọng và tuân theo nhằm đảm bảo đạt được hiệu suất cao. Theo Baker và AusIndustry (2002), Các yếu tố thành công cốt yếu CFS là danh sách các vấn đề hoặc khía cạnh của hiệu suất tổ chức, xác định tình trạng tồn tại, hoạt động và phát triển của tổ chức.

Theo Parmenter (2015), yếu tố thành công cốt yếu CSF nên đạt được những tiêu chuẩn theo phương pháp SMART (SMART method) được áp dụng trong việc xác định mục tiêu trong mô hình Quản trị theo Mục tiêu của Drucker (1954) bao gồm: Cụ thể (S – specific): từng yếu tố cần được xác định và mô tả cụ thể, chính xác và rõ ràng không chỉ nhằm định hướng cho nhà quản trị và người lao động cách đạt được mục tiêu chiến lược mà còn giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện chúng. Có thể đo lƣờng (M – measureable): từng yếu tố cần được gắn kết với các thước đo cụ thể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Có thể đạt đƣợc (A – achievable): các yếu tố phải mang tính khả thi và phải được truyền đạt chính xác, rõ ràng nhằm đảm bảo mọi người trong tổ chức nhận thức được tính khả thi đó. Thực tế (R – realistic): từng yếu tố phải phù hợp với thực tế hoạt động của tổ chức, đảm bảo tổ chức có đủ nguồn lực để thực hiện, có tính thử thách (để tạo động lực phát triển) và giữ được sự cân bằng giữa các yếu tố.

Nhạy cảm với thời gian (T – Time sensitive): các yếu tố có thể thay đổi theo thời gian nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình hoạt động của tổ chức. Khái niệm về thẻ điểm cân bằng (BSC) Theo Kaplan, R.P (1996), Thẻ điểm cân bằng (Balanced scorecard - BSC) là tập hợp các thước đo hiệu quả hoạt động, diễn giải chiến lược và sứ mệnh của tổ chức, đồng thời cung cấp một khung làm việc cho hệ thống quản lý và đo lường chiến lược. BSC tính toán hiệu suất hoạt động của tổ chức trên 4 khía cạnh tài chính, khách hàng, quá kinh doanh nội tại và học tập – tăng trưởng. Ngoài vai trò là hệ thống đo lường chiến thuật và hoạt động, BSC hiện đang được sử dung như một hệ thống quản lý chiến lược nhằm hoàn thành 4 quá trình quản lý trọng yếu bao gồm: cụ thể hóa tầm nhìn và chiến lược Công ty; gắn chiến lược với các thước đo và truyền đạt đến người lao động; đặt mục tiêu, lên kế hoạch chi tiết và liên kết các sáng kiến chiến lược; gia tăng sự phản hồi đa phương tạo điều kiện phát triển và đánh giá chiến lược.

(2009), Thẻ điểm cân bằng là một công cụ quản lý nhằm đảm bảo các hoạt động vận hành ở các đơn vị phù hợp với các mục tiêu, tầm nhìn và chiến lược của doanh nghiệp. Theo Niven (2009), Thẻ điểm cân bằng là tập hợp các thước đo bắt nguồn từ chiến lược tổ chức, là công cụ truyền đạt những yếu tố dẫn dắt hiệu suất giúp tổ chức đạt được sứ mệnh và chiến lược. Khái niệm về chỉ số đo lƣờng hiệu suất cốt yếu (KPI) Spitzer (2007) cho rằng mọi người sẽ làm những thứ được nhà quản lý đánh giá (thông qua việc đo lường), điều đó có thể khác với những gì nhà quản lý thực sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 kỳ vọng. Mặt khác, nhà quản lý thường xuyên đưa ra những kỳ vọng mơ hồ, gây khó hiểu và nhầm lẫn cho nhân viên.

Theo Parmenter (2015), việc đo lường phù hợp mang lại các lợi ích như giúp mọi người thấy được tiến độ thực hiện và thúc đẩy hành động, kế hoạch đã đề ra; làm cơ sở cho việc cân bằng giữa các mục tiêu cần đạt và tăng tính nhất quán trong việc xây dựng mục tiêu; Tập trung nguồn lực để thực hiện được các mục tiêu cả ngắn và dài hạn. Ngoài ra, việc sở hữu một hệ thống đo lường phù hợp không chỉ giúp nhà quản trị tăng tính khách quan trong việc đánh giá nhân viên và công việc mà còn tăng tính khách quan, nhất quán trong quá trình đưa ra quyết định. Đồng thời, thông qua việc khuyến khích phản hồi và đổi mới, tinh giản những thứ không cần thiết, công nhận thành tích nhân viên, đào tạo và cố vấn phù hợp… một hệ thống đánh giá phù hợp cũng tạo điều kiện trao đổi thông tin đa chiều, để xác định những cảnh báo sớm giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định và có bước chuẩn bị tốt hơn cho tương lai. Do đó, để tổ chức hoạt động hiệu quả và đạt được thành công như kỳ vọng, bên cạnh việc xác định những yếu tố thành công cốt yếu CSF như đã nêu tại 1.1, nhà quản lý cần có phương pháp đo lường hợp lý.

Theo Stannard và các cộng sự (2008), các chỉ số đo lường hiệu suất cốt yếu (key performance indicator – KPI) là các biến được đo lường nhằm trên thang điểm chuẩn không chỉ phản ánh kết quả hoạt động của tổ chức trong hiện tại mà còn cung cấp mô tả về tác động của các đơn vị chức năng (function) lên kết quả đầu ra (outcome). Theo Parmenter (2015), các chỉ số đo lường hiệu suất cốt yếu KPI là các chỉ số tập trung vào các khía cạnh biểu hiện, hiệu suất (performance) – vốn rất quan trọng trong việc quyết định thành công của tổ chức trong hiện tại và tương lai. Các đặc điểm của KPI Theo Parmenter (2015), các chỉ số đo lường hiệu suất cốt yếu KPI hiệu quả có 7 đặc điểm sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Thứ nhất, KPI là chỉ số phi tài chính. Theo Parmenter (2015), KPI có thể chỉ ra những công việc cụ thể mà Ban Điều hành, các Phòng ban chức năng và người lao động cần thực hiện để đạt được những mục tiêu chiến lược.

Trong khi đó các chỉ số tài chính là công cụ định lượng kết quả của những sự kiện đã diễn ra. Do đó, các thước đo tài chính là thước đo kết quả (RI – result indicator) trong quá khứ, không thể là KPI – những chỉ số hướng đến định hướng công việc trong hiện tại và tương lai. Thứ hai, các KPI cần được cung cấp kịp thời. Theo Parmenter, các KPI tạo điều kiện đưa ra – tiếp nhận thông tin phản hồi giữa Ban Điều hành, các Phòng ban chức năng, người lao động và các đối tượng hữu quan (nếu có) để xác định những cảnh báo sớm giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định nên cần được giám sát thường xuyên và cung cấp kịp thời.

Parmenter cũng cho rằng những thước đo hằng năm, hằng quý không thể là KPI vì chúng không thể cung cấp thông tin kịp thời cho các nhà quản trị mà chỉ thể hiện kết quả của vấn đề sau khi đã xảy ra. Thứ ba, các KPI đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch hướng đến mục tiêu chiến lược của tổ chức nên cần được xem là đối tượng tập trung theo dõi của Ban Điều hành và các nhà quản trị cấp cao trong tổ chức. Thứ tƣ, các KPI phải đơn giản để giúp người lao động, nhóm hoặc các đơn vị hiểu rõ nhiệm vụ và công việc cụ thể cần thực hiện. Họ cũng cần hiểu rõ các thước đo và cách thức đánh giá các KPI liên quan.

Thứ năm, KPI nên được áp dụng trên nhóm thay vì cá nhân. Theo đó, các nhiệm vụ được giao phải được cụ thể đến từng nhóm hoặc đơn vị gồm những nhóm có hoạt động tương tác chặt chẽ. Nguyên nhân chính là do KPI thường gắn liền với những nhiệm vụ lớn, có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của Công ty mà một cá nhân thường không đủ khả năng đảm nhận. Thứ sáu, các KPI được gắn kết với các yếu tố thành công cốt yếu CFS nên việc tập trung vào KPI sẽ giúp tổ chức tập trung và phân bổ các nguồn lực phù hợp sẽ có tác động đáng kể trong quá trình theo đuổi và thực hiện chiến lược.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Thứ bảy, KPI có khả năng hạn chế tác động tiêu cực. Parmenter nhấn mạnh hiện tượng người lao động và thậm chí cả nhà quản trị cố ý thao túng các KPI nhằm tối đa hóa lợi ích bản thân, đồng thời cũng chỉ ra nhiều tác động tiêu cực khi tổ chức sử dụng KPI như cơ sở đánh giá khen thưởng của người lao động. KPI là những chỉ số được tổ chức đánh giá là mang lại tác động đáng kể lên quá trình thực hiện các kế hoạch hướng đến các mục tiêu chiến lược, chính vì vậy, khi một chỉ số được xác định trở thành KPI thì cần được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo việc sử dụng chỉ số đó mang lại những chuyển biến tích cực đối với hiệu suất hoạt động của tổ chức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ