phần mở đầu và kết luận chung, đề tài gồm những phần sau: Chƣơng 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ Chƣơng 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH URC Việt Nam Chƣơng 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH URC Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ Trên thế giới, thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” đã ra đời từ thời cổ xƣa. Ở Ai Cập và Hi Lạp cổ đại, nhà nƣớc có hai bộ máy chính quyền hoạt động song song, một chịu trách nhiệm thu thuế và bộ máy còn lại chịu trách nhiệm giám sát bộ máy kia. Qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, “kiểm soát nội bộ” đã dần trở nên phổ biến, ghi nhận trong các văn bản và phát triển thành một hệ thống lí luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức. Đặc biệt, từ sau vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom và Enron (Mỹ) những năm 2000-2001 và sự ra đời của luật Sarbanes-Oxley của Mỹ - quy định các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống KSNB công ty năm 2002, thể hiện các vấn đề liên quan đến kiểm toán một cách toàn diện.
Vì vậy, hệ thống KSNB không chỉ đánh giá các báo cáo tài chính, phát hiện các yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giá các rủi ro ảnh hƣởng cả trong và ngoài công ty. Những giai đoạn phát triển của hệ thống KSNB đƣợc trình bày nhƣ sau: a. Giai đoạn sơ khai Hệ thống KSNB chủ yếu thiên về các hoạt động kế toán, nhƣ bảo vệ tiền (1900), bảo vệ các tài sản (1929), đảm bảo các số liệu kế toán chính xác (1936), hiệu quả quản lí theo hƣớng khoa học do Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kì (AICPA) năm 1949, giữ độ an toàn của tài sản, tăng độ tin cậy của các dữ liệu và khuyến khích tuân thủ chính sách (1949) (Vaclocas Lakis, Lukas Giriunas, 2012, tr.146), vào năm 1958, Uỷ ban các thủ tục kiểm toán đã ban hành SAP 29, trình bày các thủ tục về kiểm toán, kiểm soát kế toán và kiểm soát nội bộ ảnh hƣởng các số liệu trên báo cáo tài chính. Vào năm 1972, SAP 54 ra đời cung cấp cách tiếp cận mới về quản lý kế toán, mục đích là ngăn chặn và phát hiện những lỗi thƣờng gặp cũng nhƣ bất thƣờng trên báo cáo tài chính.Brief, 1999, Development of LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Professional Standards Related to Internal Accounting Control Evaluation, in: NEW WORKS IN ACCOUNTING HISTORY, Garland Publishing Inc.
Giai đoạn hình thành Trong những năm tiếp theo, gian lận tại các công ty ngày càng nhiều thúc đẩy xã hội quan tâm nhiều hơn đến hệ thống KSNB. Sau vụ bê bối chính trị trên chính trƣờng Mỹ - Watergate (1973), vào năm 1977, luật về chống hối lộ nƣớc ngoài ra đời. AICPA thành lập một uỷ ban đặc biệt về KSNB (1979) nhằm đƣa ra các hƣớng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB. Sau đó, cũng trong năm này, SEC bắt buộc các công ty phải báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán tại doanh nghiệp.
Sau đó, AICPA đã ban hành những hƣớng dẫn bổ sung về tác động của việc xử lí bằng máy vi tính đến KSNB. Các sự kiện trên có một điểm chung đó là làm dấy lên sự quan tâm của công chúng đến vấn đề kiểm soát nội bộ bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nƣớc, các nghị sĩ, các giám đốc điều hành, các kế toán và kiểm toán viên…Trong suốt giai đoạn này, khái niệm kiểm soát nội bộ không ngừng đƣợc mở rộng và phát triển, từ đó, vào năm 1985, Uỷ ban các tổ chức đồng bảo trợ (COSO) đƣợc thành lập. Giai đoạn phát triển Từ năm 1985 trở đi, sự quan tâm của xã hội đến KSNB ngày càng mạnh mẽ. Vào tháng 4.1988, SAS 55 ban hành đã chỉ ra rằng cấu trúc của kiểm soát nội bộ của đơn vị gồm ba yếu tố là môi trƣờng kiểm soát, hệ thống kiểm soát và các thủ tục kiểm soát.
Năm 1992, ban hành báo cáo COSO, tạo lập một nền tảng cơ bản về hệ thống KSNB. Báo cáo này đã thống nhất các định nghĩa về hệ thống KSNB, đồng thời, đƣa ra năm yếu tố của KSNB bao gồm: môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông và giám sát. Đặc điểm nổi bật của báo cáo COSO 1992 là một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó, KSNB không còn chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chính mà đƣợc mở rộng ra cho các lĩnh vực hoạt động, vấn đề quản trị doanh nghiệp và tuân thủ. Giai đoạn hiện đại Sau này, hàng loạt các nghiên cứu về hệ thống KSNB ra đời ở nhiều lĩnh vực nhƣ: - Hiểu biết về tình hình kinh doanh , môi trƣờng hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu thể hiện ở IAS 315 _ định nghĩa KSNB dựa trên các định nghĩa của COSO 1992.
ISA 265 thông báo về những khiếm khuyết của KSNB đã xác định việc quan tâm của kiểm toán viên và thông báo về khiếm khuyết KSNB phát hiện. - Phát triển về phía quản trị: Năm 2001, hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM – Enterprise Risk Management Framework) hình thành. 10/2004 trên cơ sở Báo cáo COSO 1992, đã ban hành lí thuyết giúp các tổ chức quản trị các rủi ro liên quan đến quá trình hoạt động - COSO 2004. Theo báo cáo COSO 2004 thì quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình do con ngƣời chi phối, áp dụng trong việc thiết lập các chiến lƣợc liên quan tới toàn đơn vị và các cấp độ trong đơn vị, đƣợc thiết kế để nhận diện các rủi ro tiềm tàng, từ đó, quản lí chúng trong phạm vi có thể chấp nhận đƣợc để có thể đảm bảo thực hiện các mục tiêu của đơn vị.
- Phát triển theo hƣớng công nghệ thông tin: CoBiT là hệ thống khuôn mẫu quốc tế về quản lí thông tin trong môi trƣờng tin học do ISACA và ITGI ban hành năm 1996. CoBiT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trƣờng tin học, bao gồm những lĩnh vực hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát dành cho các nhà quản lí doanh nghiệp và những ngƣời kiểm tra áp dụng vào trong các hoạt động công việc. - Phát triển theo hƣớng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Trên cơ sở của báo cáo COSO 1992, uỷ ban Basel ban hành báo cáo Basel năm 1998 về kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Năm 2000, Uỷ ban Basel LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ban hành báo cáo bổ sung liên quan đến kiểm toán nội bộ, quan hệ giữa kiểm toán viên và ngân hàng.
- Trƣớc yêu cầu phát triển của xã hội và của môi trƣờng hoạt động kinh doanh, Uỷ ban COSO đã giới thiệu báo cáo COSO 2013 nhằm giúp cho việc áp dụng khuôn khổ của hệ thống KSNB một cách rộng rãi hơn, linh hoạt hơn. Ngoài việc cập nhật 3 mục tiêu là: Mục tiêu về hiệu quả quản lí, mục tiêu báo cáo tài chính và mục tiêu về tính tuân thủ, COSO 2013 còn giới thiệu 17 nguyên tắc đƣợc hệ thống hoá, trình bày một cách khoa học để có thể từng bƣớc tiếp cận và xác định các rủi ro của tổ chức, giúp tổ chức đạt đƣợc mục tiêu.2 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ Quá trình nhận thức và nghiên cứu KSNB đã dẫn đến sự hình thành các định nghĩa khác nhau từ giản đơn đến phức tạp. Theo COSO 1992 thì KSNB là một quá trình do con ngƣời quản lí, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lí nhằm thực hiện ba mục tiêu dƣới đây: - Báo cáo tài chính đáng tin cậy - Các luật lệ và quy định đƣợc tuân thủ - Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả Trong định nghĩa trên có bốn nội dung cơ bản là quá trình, con ngƣời, đảm bảo hợp lí và mục tiêu. Chúng đƣợc hiểu nhƣ sau: Kiểm soát nội bộ là một quá trình: KSNB bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và đƣợc kết hợp với nhau thành một thể thống nhất.
Quá trình kiểm soát là phƣơng tiện để giúp cho đơn vị đạt đƣợc các mục tiêu của mình. KSNB đƣợc thiết kế và vận hành bởi con ngƣời. Cần hiểu rằng KSNB không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu… mà phải bao gồm cả những con ngƣời trong tổ chức nhƣ Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc và các nhân viên. Chính con ngƣời sẽ đặt ra các mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lí, chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ đạt đƣợc. Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con ngƣời… nên dẫn đến không đạt đƣợc các mục tiêu. KSNB có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhƣng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đƣa ra quyết định quản lí là chi phí cho một quá trình kiểm soát không thể vƣợt quá lợi ích đƣợc mong đợi từ quá trình kiểm soát đó.
Do đó, tuy ngƣời quản lí có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhƣng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro. Các mục tiêu của KSNB - Đối với báo cáo tài chính, KSNB phải đảm bảo về tính trung thực và đáng tin cậy, bởi vì chính ngƣời quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. - Đối với tính tuân thủ, KSNB trƣớc hết phải đảm bảo hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định. Điều này xuất phát từ trách nhiệm của ngƣời quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị.