Chương 1: Những vấn đề lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp - Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty 789 - Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty 789 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Lý luận về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 1. Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát.
Trong Giáo trình kiểm toán, của Đại học Thương Mại, có khái niệm: Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, các bước kiểm soát và thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm quản lý và điều hành các hoạt động của đơn vị.Các bước kiểm soát là các biện pháp được tiến hành để xem xét và khẳng định các biện pháp quản lý khác có được tiến hành hiệu quả và thích hợp hay không. Trong quan hệ với tổ chức bộ máy, quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực đã xác định để đạt các mục tiêu đã đề ra. Chủ thể quản lý ở đây chính là bộ máy quản lý của đơn vị, bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp và bộ phận cán bộ chuyên môn thực thi các nghiệp vụ quản lý, điều hành đơn vị. Đối tượng quản lý chính là con người và sự vật, hiện tượng diễn ra trong đơn vị.
Đối tượng quản lý có nhiều đặc tính khác nhau do đó trong quá trình quản lý cũng phát sinh những vấn đề phức tạp ở mức độ khác nhau. Mục tiêu quản lý của đơn vị là sau một quá trình quản lý có thể đo lường và lượng hoá được kết quả mà đơn vị phải hướng tới trong một khoảng thời gian nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Toàn bộ quá trình quản lý bao gồm 2 khâu chính: khâu định hướng và khâu tổ chức thực hiện những hướng đã định. Ở mỗi khâu, chức năng kiểm soát luôn được đề cao bởi nó cho biết mức độ sát thực của quản lý.
Để đạt được kế hoạch đã đề ra, khâu tổ chức thực hiện cần phải được coi trọng trong toàn bộ quá trình quản lý. Tổ chức thực hiện ở đây bao gồm từ việc áp dụng những chủ trương, trình tự đã được định hướng tới việc sử dụng hiệu quả những nguồn lực đã có. Trong khâu này người quản lý phải vận dụng các kỹ năng điều hành của mình để quản lý, chỉ đạo phối hợp các bộ phận. Kết quả hoàn thành được báo cáo và so sánh với các mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch.
Từ kết quả này, người quản lý có thể kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động một cách phù hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra một cách tốt nhất. Ở khâu định hướng cần có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu đồng thời kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu đó, xây dựng các chương trình, kế hoạch. Sau khi các chương trình kế hoạch đã được kiểm soát thì có thể đưa ra các quyết định cụ thể để thực hiện. Ở khâu tổ chức thực hiện những hướng đã định cần kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát diễn biến và kết quả của các quá trình để điều hoà các mối quan hệ, điều chỉnh các mục tiêu nhằm đạt kết quả tối ưu.
Như vậy, kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch. Quy trình này bao gồm 3 bước khác nhau: đo lường thành quả hoạt động, so sánh thành quả thực tế với một chuẩn mực nào đó và có hành động để chỉnh sửa các sai lệch hoặc các chuẩn mực không phù hợp. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu bảo đảm rằng mọi hoạt động được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Theo định nghĩa này, kiểm soát không phải là một giai đoạn hay một khâu của quá trình quản lý mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 quá trình quản lý.
Vì vậy có thể hiểu kiểm soát là một chức năng của quản lý. Tuy nhiên chức năng này cũng thể hiện rất khác nhau tuỳ thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền thống văn hoá cũng như những điều kiện kinh tế xã hội khác của mỗi nơi trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể. Một cách tổng quát, kiểm soát có thể được phân thành kiểm soát trực tiếp và kiểm soát tổng quát. Kiểm soát trực tiếp là các thủ tục, các quy chế kiểm soát được xây dựng trên cơ sở đánh giá các yếu tố, các bộ phận cấu thành hệ thống quản lý.
Kiểm soát trực tiếp bao gồm 3 loại hình cơ bản: kiểm soát hành vi, kiểm soát xử lý và kiểm soát bảo vệ. Kiểm soát hành vi là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ do những nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động tiến hành. Đây là biện pháp tương đối hiệu quả nhằm phát hiện và ngăn chặn các gian lận, sai sót. Một hệ thống kiểm soát hành vi hữu hiệu sẽ giúp cho toàn bộ công việc kiểm soát được giảm nhẹ một cách đáng kể.
Kiểm soát xử lý là kiểm soát việc nắm bắt, giải quyết các giao dịch hay những công việc mà nhờ chúng các giao dịch được công nhận, cho phép, phân loại, tính toán, ghi chép, tổng hợp và báo cáo. Trong trường hợp thông tin được xử lý bằng hệ thống máy tính thì kiểm soát xử lý được thực hiện thông qua chức năng xử lý bằng điện toán. Kiểm soát bảo vệ là các biện pháp, quy chế kiểm soát nhằm đảm bảo sự an toàn của tài sản và thông tin trong đơn vị. Các trọng điểm nhằm vào mục đích này bao gồm: Một là: Phân định trách nhiệm bảo vệ tài sản, đặc biệt là phân định trách nhiệm bảo quản với trách nhiệm ghi chép về tài sản, hạn chế sự tiếp cận trực tiếp của người không có trách nhiệm với tài sản và sổ sách của đơn vị khi chưa được phép của người quản lý.
Chẳng hạn: Ban hành và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 thực hiện quy chế kiểm soát việc ra vào kho hàng, quy chế bảo trì và sửa chữa tài sản, kiểm soát việc tham khảo các tài liệu kế toán, các dữ liệu lưu trữ trong máy vi tính. Hai là: Hệ thống an toàn. Ví dụ nhà kho, két sắt chịu lửa, hệ thống báo động, báo cháy, cài đặt mã truy cập thông tin v. Ba là: Kiểm kê hiện vật và xác nhận của bên thứ ba xác nhận trực tiếp về số lượng và tình trạng của tài sản.
Kiểm soát tổng quát là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác nhau từ chủ trương, chính sách, tổ chức quản lý đến hệ thống thông tin kế toán và thủ tục kiểm soát. Trong môi trường tin học hoá quản lý ở mức độ cao thì kiểm soát tổng quát thuộc chức năng của phòng điện toán. Muốn đánh giá kiểm soát trong trường hợp này phải sử dụng các chuyên gia am hiểu về máy tính mới có thể làm được. Như vậy, qua nghiên cứu lý luận về kiểm soát trong quản lý có thể thấy kiểm soát là một chức năng của quản lý, gắn liền với quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm soát.
Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn, nội dung quản lý càng phức tạp, do đó công tác quản lý càng đòi hỏi nhiều ở kiểm soát. Tuy nhiên quản lý và chức năng kiểm soát trong quản lý là những công việc hết sức phức tạp đòi hỏi người quản lý không chỉ có đủ kiến thức, kỹ năng bản lĩnh mà còn phải năng động, nhạy bén, am hiểu tình hình thực tế để có những quyết định phù hợp lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ Trong mỗi doanh nghiệp, chức năng kiểm tra kiểm soát đóng vai trò rất quan trọng đối với công tác quản lý. Chức năng này được thực hiện chủ yếu thông qua hệ thống KSNB của doanh nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế (International Federation of Accountants - IFAC): “HTKSNB là một hệ thống các chính sách và thủ tục kiểm soát nhằm: + Bảo vệ tài sản của đơn vị, tránh mất mát, thất thoát, hư hỏng. + Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin kế toán, tránh những sai sót gian lận trong việc ghi chép, tổng hợp trên các tài liệu kế toán. + Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý, bảo đảm sự tuân thủ đúng mức các qui định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tránh những vi phạm dẫn đến những quan hệ không lành mạnh trong hoạt động tài chính. + Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý.
Tránh những lãng phí về các nguồn lực tài chính và phát huy tối đa năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý và của người lao động trong đơn vị.” Theo đó, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị: Thứ nhất là tài sản của đơn vị phải được bảo vệ. Tài sản ở đây có thể là vô hình, hữu hình, có thể là vật chất hoặc phi vật chất. Chúng có thể bị đánh cắp, bị lạm dụng vào các mục đích khác nhau hoặc bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp.