phần mở đầu và kết luận, Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị hoạt động công. Chƣơng 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Nhà nƣớc chi nhánh tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Nhà nƣớc chi nhánh tỉnh Bình Định. e 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI ĐƠN VỊ HOẠT ĐỘNG CÔNG 1.
Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Sơ lƣợc về sự hình thành và phát triển của hệ thống KSNB Trong một tổ chức bất kỳ, sự thống nhất và xung đột quyền lợi chung - quyền lợi riêng của ngƣời sử dụng lao động với ngƣời lao động luôn tồn tại song hành. Nếu không có hệ thống KSNB, làm thế nào để ngƣời lao động không vì quyền lợi riêng của mình mà làm những điều thiệt hại đến lợi ích chung của toàn tổ chức, của ngƣời sử dụng lao động? Làm sao quản lý đƣợc các rủi ro? Làm thế nào có thể phân quyền, ủy nhiệm, giao việc cho cấp dƣới một cách chính xác, khoa học chứ không phải chỉ dựa trên sự tin tƣởng cảm tính? Trong hơn một thế kỷ qua, khái niệm KSNB đã phát triển từ chỗ đƣợc xem là một phƣơng pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phƣơng pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán đến chỗ đƣợc coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu. Ngƣời ta cho rằng KSNB không chỉ bảo vệ tài sản (không chỉ có tiền) mà còn nhằm bảo đảm việc ghi chép kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động và khuyến khích tuân thủ các chính sách của nhà quản lý.
Vào những năm cuối thế kỷ 19, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển mạnh mẽ, quyền sở hữu của các cổ đông tách rời chức năng điều hành của những nhà quản lý, các kênh cung cấp vốn cũng phát triển kịp thời để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô của các DN. Các công ty kiểm toán độc lập ra đời nhằm đảm nhiệm chức năng xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC), là cơ sở để các kênh cung cấp vốn có cái nhìn tổng quan về tình hình tài chính của DN. Khi thực hiện kỹ thuật lấy mẫu, các kiểm toán viên tin tƣởng vào hệ thống KSNB do đơn vị đƣợc kiểm toán sử e 8 dụng trong việc xử lý, tập hợp các thông tin để lập BCTC. Vì vậy các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến KSNB.
Thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này. Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và từ cuộc cách mạng công nghiệp. Đến năm 1905, Robert Montgomery, đồng thời cũng là sáng lập viên của công ty kiểm toán Lybrand, Ross Bros & Montgomery, đã đƣa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đến KSNB trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”. Năm 1929, thuật ngữ KSNB đƣợc đề cập chính thức trong một công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa kỳ (FED) theo đó KSNB đƣợc định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên.
Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) trong một công bố cũng đã định nghĩa KSNB “là các biện pháp và cách thức đƣợc chấp nhận và đƣợc thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng nhƣ kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”. Đặc biệt là sau vụ phá sản của các công ty lớn có cổ phiếu niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán nhƣ MC Kesson & Robbins, Drayer Hanson. mà Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) chỉ trích công ty kiểm toán đã không chú trọng đúng mức về hệ thống kiểm tra và KSNB, thì việc nghiên cứu và đánh giá về KSNB ngày càng đƣợc chú trọng. Vào năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề là: “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và với kiểm toán viên độc lập”.
Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB nhƣ SAP29(1958), e 9 SAP33(1962), SAP54(1972) (sau này thay thế bằng các chuẩn mực kiểm toán của SAS). Trong suốt thời kỳ trên, khái niệm về KSNB đã không ngừng đƣợc mở rộng và ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, KSNB vẫn mới dừng lại nhƣ là một phƣơng tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC trƣớc khi báo cáo COSO (1992) ra đời. Vào những thập niên 1970 - 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ cũng nhƣ nhiều quốc gia khác đã phát triển mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, các vụ gian lận cũng ngày càng tăng, với quy mô ngày càng lớn, gây ra tổn thất đáng kể cho nền kinh tế. Năm 1979, SEC bắt buộc các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình. Từ đó đƣa đến việc thành lập COSO (1985) dƣới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp, mỗi tổ chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Ủy ban COSO. Các tổ chức này bao gồm: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA).
Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đƣa ra Khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống nhất cho đến hiện nay. Sau báo cáo COSO 1992, hàng loạt nghiên cứu về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời. Phát triển theo hƣớng kiểm toán độc lập: Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB, bao gồm: SAS 78 (1995), SAS 94 (2001).
Phát triển theo hƣớng công nghệ thông tin: Năm 1996, Bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan” (CoBIT – Control Objectives for Information and Related Technology) do Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin (ISACA – Information System Audit and Control Association) ban hành. e 10 Phát triển về phía quản trị: Năm 2004, COSO chính thức ban hành Báo cáo COSO 2004 (ERM) dựa trên cơ sở báo cáo COSO 1992. Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ: Năm 2006, COSO triển khai nghiên cứu và ban hành hƣớng dẫn “Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính – Hƣớng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (gọi tắt là COSO Guidance 2006) Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA – International Standard onAuditing) cũng sử dụng Báo cáo của COSO khi yêu cầu xem xét hệ thống KSNB trong kiểm toán BCTC, cụ thể là: ISA 315 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trƣờng hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu”, ISA 265 “Thông báo về những khiếm khuyết của kiểm soát nội bộ”. Phát triển theo hƣớng kiểm toán nội bộ: Các chuẩn mực của IIA không đi sâu nghiên cứu các thành phần của KSNB, vì IIA là một thành viên của COSO nên về nguyên tắc không có sự khác biệt giữa định nghĩa của IIA và COSO.
Phát triển theo hƣớng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervision) đã đƣa ra khuôn khổ về KSNB trong ngân hàng. Báo cáo này không đƣa ra những lý luận mới mà chỉ vận dụng các lý luận cơ bản của COSO vào lĩnh vực ngân hàng. Hƣớng dẫn về giám sát hệ thống KSNB: COSO cũng đƣa ra Dự thảo Hƣớng dẫn về giám sát hệ thống KSNB (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm giúp các tổ chức tự giám sát chất lƣợng của hệ thống KSNB. Vào ngày 14 tháng 05 năm 2013, COSO đã cập nhật khuôn mẫu hệ thống KSNB 3 nhằm hƣớng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận (internal control and fraud deterrence), từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng nhƣ tăng cƣờng sự giám sát của tổ chức.
Trong lĩnh vực công, KSNB rất đƣợc xem trọng, nó là một đối tƣợng đƣợc quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nƣớc. Về kiểm toán Nhà e 11 nƣớc, hệ thống chuẩn mực kiểm toán Nhà nƣớc do tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao – International Organization of Supreme Audit Insitutuions (viết tắt là INTOSAI) bao gồm 178 thành viên, ban hành gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán. Một số quốc gia nhƣ Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nƣớc Hoa Kỳ (GAO) 1999 đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp.
GAO đƣa ra năm yếu tố về KSNB bao gồm các quy định về môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông và truyền thông, giám sát. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán do INTOSAI ban hành bao gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán. Năm 1992, bản Hƣớng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá KSNB. Năm 2001, bản hƣớng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tƣợng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB.
Điều cần lƣu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO. Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết thông thƣờng về KSNB, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù về khu vực công. Lợi ích và hạn chế của hệ thống KSNB 1.