chương 1 Lý thuyết, thực tế đã chỉ ra sự cần thiết và tính thời sự về nghiên cứu hoàn thiện hệ thống kế toán chi phí Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú nhằm nâng cao tính hữu ích đối với nhu cầu thông tin quản trị. Việc nghiên cứu này trên cơ sở kế thừa, phát triển một số công trình nghiên cứu hệ thống kế toán chi phí doanh nghiệp 7 trong nền kinh tế thị trường trên thế giới và ở Việt Nam để hướng đến giải quyết 3 mục tiêu, đảm bảo 4 nội dung rên cơ sở kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng và trình bày theo kết cấu 5 chương chính. 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ VÀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN CHI PHÍ DOANH NGHIỆP 2. Bản chất kinh tế của chi phí và tiếp cận chi phí trong doanh nghiệp Bản chất kinh tế của chi phí được thể hiện qua nguồn gốc phát sinh của chi phí và những hình thức tiếp cận chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tiếp cận theo học thuyết giá trị, chi phí là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống, lao động vật hóa phát sinh gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh. Tiếp cận này chỉ ra nguồn gốc của chi phí là từ hao phí động sống, lao động vật hóa phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiếp cận theo khuôn mẫu chuẩn mực kế toán, chi phí là những phí tổn phát sinh làm giảm nguồn lợi kinh tế của doanh nghiệp đang kiểm soát trong kỳ gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh và tác động giảm vốn sở hữu. Tiếp cận này chỉ ra cụ thể hơn về nguồn gốc của chi phí là từ giảm nguồn lợi kinh tế, giá trị tài sản sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ tiếp cận chi phí theo những quan điểm khác nhau, chi phí cũng được thể hiện qua các định nghĩa, phạm vi khác nhau. Với tư duy quản lý chuyên môn hóa, chi phí được định nghĩa, xác lập theo từng giai đoạn, bộ phận chức năng như chi phí giai đoạn đầu tư, chi phí giai đoạn sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý và những chi phí này có thể được tiếp tục chi tiết hơn theo những công đoạn, những hoạt động chức năng trong từng giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh. Với tư duy quản lý chuỗi giá trị, chi phí được định nghĩa, xác lập xuyên suốt cho cả quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đó là chi phí trước khi tiến hành, trong khi tiến hành và sau khi kết thúc hoạt động sản xuất kinh doanh (Kim 9 Langfield – Smith, Helen Thorne, Ronald Hilton (2012), Management Accounting Information for Creating and Managing Value, Mc Graw-Hill Australia, page 50) Như vậy, nguồn gốc chi phí được tiếp cận theo những góc nhìn khác nhau, theo hao phí lao động sống, lao động vật hóa hay theo nguồn lợi, tài sản và được ghi nhận theo những phạm vi, hình thức khác nhau theo các tư duy quản lý kinh tế.
Với tiếp cận nguồn gốc chi phí khác nhau chỉ ra chi phí phát sinh từ đâu trong hoạt động của doanh nghiệp; với những ghi nhận chi phí theo những phạm vi, hình thức khác nhau chỉ ra chi phí cần được thể hiện theo nhu cầu của những đối tượng sử dụng thông tin chi phí khác nhau. Nhu cầu thông tin chi phí và mục tiêu của hệ thống kế toán chi phí Bản chất kinh tế của chi phí đã chỉ ra nguồn gốc và phạm vi, hình thức thể hiện chi phí trong doanh nghiệp và từ đó cũng chỉ ra một vấn đề cơ bản trong tiếp cận thông tin chi phí, xác định nhu cầu thông tin chi phí và mục tiêu của hệ thống kế toán chi phí. Sự chuyển đổi môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh cạnh tranh đã chỉ ra sự lỗi thời về mặt thông tin, kỹ thuật của hệ thống kế toán chi phí cổ điển và tính tất yếu, vai trò, yêu cầu thiết thực của những cải tiến thông tin, kỹ thuật của hệ thống kế toán chi phí doanh nghiệp (H.Thomas Johnson & Robert S. Trong nền kinh tế hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh cạnh tranh của doanh nghiệp luôn đặt trong sự tác động, nhu cầu thông tin từ hai nhóm đối tượng cơ bản.
Nhóm thứ nhất gồm những cá nhân, tổ chức bên ngoài doanh nghiệp có lợi ích liên quan và nhóm thứ hai gồm những nhà quản trị, cá nhân, tập thể bên trong nội bộ doanh nghiệp. Mỗi nhóm đối tượng sẽ hướng đến những mục đích khác nhau và từ đó đặt ra những nhu cầu khác nhau về thông tin chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh cạnh tranh của doanh nghiệp. Với nhóm đối tượng bên ngoài, nhất là các nhà đầu tư, cơ quan quản lý chức năng, thường đặt ra nhu cầu thông tin chi phí liên quan đến đo lường, kiểm tra, đánh giá quá trình, kết quả, thành quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 10 Với nhóm đối tượng bên trong doanh nghiệp, ngoài những nhu cầu thông tin chi phí như những đối tượng bên ngoài, còn rất quan tâm đến thông tin chi phí để quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đó chính là những thông tin chi phí cần cho dự báo, hoạch định hoạt động; đo lường, đánh giá quá trình, quy trình, kết quả, thành quả hoạt động và trách nhiệm của những nhà quản trị, bộ phận có liên quan; ra các quyết định giá bán, quyết định phương án kinh doanh cạnh tranh (James R. Martin (2005), Management Accounting: Concepts, Techniques & Controversial Issues, page 134) Trên cơ sở này, từ nhu cầu thông tin chi phí của những đối tượng khác nhau, hệ thống kế toán chi phí cũng sẽ hướng đến những mục tiêu, trọng tâm khác nhau. Với đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, hệ thống kế toán chi phí hướng đến mục tiêu, trọng tâm cung cấp thông tin để lập và trình bày thông tin chi phí của quá trình, kết quả, hiệu quả hoạt động trên báo cáo tài chính. Thông tin chi phí cung cấp cho đối tượng này phải tuân thủ những giả thuyết, nguyên tắc, chuẩn mực và quy định chung của kế toán, chế độ kế toán ở mỗi quốc gia, trong từng thời kỳ.
Từ đó, hệ thống kế toán chi phí với mục tiêu này thường ít thay đổi, và đôi khi khá lạc hậu về thông tin, kỹ thuật. Với đối tượng bên trong doanh nghiệp, hệ thống kế toán chi phí hướng đến mục tiêu, trọng tâm cung cấp thông tin chi phí để thực hiện các chức năng quản trị như dự báo, hoạch định hoạt động; đo lường, đánh giá quá trình, quy trình, kết quả, thành quả hoạt động và trách nhiệm của những nhà quản trị, bộ phận có liên quan; ra các quyết định giá bán, quyết định phương án kinh doanh. Thông tin chi phí cung cấp cho mục tiêu này đòi hỏi phải linh hoạt, thay đổi kịp thời với những thay đổi tư duy, lý thuyết, mô hình quản trị. Từ đó, hệ thống kế toán chi phí với mục tiêu này thường có tính cá biệt, đặc thù ở mỗi doanh nghiệp và thông tin, kỹ thuật cũng khá tiến bộ, khá cá biệt.
Ngày nay, với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh, của khoa học – kỹ thuật – công nghệ - quản lý đã dẫn đến mục tiêu 11 cung cấp thông tin chi phí cho những nhà quản trị bên trong nội bộ doanh nghiệp ngày càng quan trọng hơn, giữ vai trò quyết định hơn đến hệ thống kế toán chi phí. Và đây cũng chính là khía cạnh làm suy giảm rất nhanh tính hữu ích của hệ thống kế toán chi phí doanh nghiệp trong thời gian gần đây và tương lai (Kim Langfield – Smith, Helen Thorne, Ronald Hilton (2012), Management Accounting Information for Creating and Managing Value, Mc Graw-Hill Australia, page 25). Tính hữu ích của hệ thống kế toán chi phí doanh nghiệp Kế toán chi phí là một bộ phận quan trọng không thể thiếu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào đang hoạt động sản xuất kinh doanh. Để có tính hữu ích, hệ thống thống kế toán chi phí doanh nghiệp cần phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu thông tin cho từng đối tượng sử dụng và chính sự đảm bảo, mức độ đảm bảo cùng với vai trò trong đảm bảo, đáp ứng nhu cầu thông tin cho từng đối tượng sử dụng thể hiện tính hữu ích của hệ thống kế toán chi phí.
Quan điểm về tính hữu ích của kế toán cũng như kế toán chi phí có nhiều góc nhìn khác nhau nhưng theo quan điểm của Hội Đồng Chuẩn Mực Kế toán Mỹ (FASB), Hội Đồng Chuẩn Mực Kế toán quốc tế (IASB) năm 2001, tính hữu ích của kế toán chi phí được thể hiện qua những tiêu chuẩn định tính sau : - Tính phù hợp (Relevance): Thể hiện kế toán chi phí phải có năng lực tạo ra những thông tin chi phí khác biệt để đáp ứng linh hoạt và kịp thời các quyết định của nhà quản trị có liên quan đến chi phí. - Tính đáng tin cậy (Reliability): Thể hiện kế toán chi phí cung cấp thông tin chi phí được người sử dụng đặt niềm tin vào đó để ra quyết định. - Tính có thể so sánh (Comparability): Thể hiện kế toán chi phí phải cung cấp được những thông tin chi phí đảm bảo so sánh được với những thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính, so sánh được với các lý thuyết, mô hình quản trị chi phí của nhà quản trị doanh nghiệp. 12 - Tính có thể hiểu (Understandability): Thể hiện kế toán chi phí phải cung cấp thông tin chi phí được trình bày theo cách thức sao cho những người đối tượng có liên quan, có trình độ hiểu được và kết nối được với các nhu cầu, quản trị, thực hiện các công cụ quản trị.
- Tính trọng yếu (Materiality): Thực chất chỉ là kết quả việc đảm bảo các tính chất phù hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh, có thể hiểu hay nói cách khác tính trọng yếu của hệ thống kế toán chi phí là tổng hợp các tiêu chuẩn trên. Trên cơ sở này, rõ ràng, tính hữu ích của hệ thống kế toán chi phí được thể hiện qua thông tin chi phí mà nó cung cấp cho các đối tượng. Ngày nay, với sự thay đổi nhanh chóng của hoạt động, khoa học - kỹ thuật - công nghệ - quản lý, vai trò thông tin chi phí cho quản trị ngày càng quan trọng hơn nên tính hữu ích của kế toán chi phí từ đó cũng được quyết định bới vai trò cung cấp thông tin chi phí cho quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp.