Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kế hoạch trong kinh doanh Nông trại du lịch. Chương 2: Thực trạng hệ thống kế hoạch trong kinh doanh Nông trại du lịch của Công ty Cổ phần đầu tư phát triển DOK Việt Nam. Chương 3: Hoàn thiện hệ thống kế hoạch trong kinh doanh Nông trại du lịch của Công ty Cổ phần đầu tư phát triển DOK Việt Nam. SV: Lê Thị Hồng Nhung Lớp: QTDNA – K13 Khóa luận tốt nghiệp 5 Khoa Quản trị kinh doanh CHƢƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KẾ HOẠCH TRONG KINH DOANH NÔNG TRẠI DU LỊCH.
Nông trại du lịch. Khái niệm nông trại (trang trại), kinh tế trang trại. Lịch sử ngành nông nghiệp nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn biến động thăng trầm cùng lịch sử xây dựng, gìn giữ và phát triển đất nước. Trước kia trong xã hội đã từng tồn tại hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung, tức là hình thức mà ở đó, các hoạt động chăn nuôi, trồng trọt được tiến hành trên quy mô rộng lớn với lượng lương thực, thực phẩm sản xuất ra lớn gấp nhiều lần so với sản xuất nhỏ lẻ truyền thống.
Thời phong kiến, người ta gọi đó là “điền trang”, “thái ấp”, “đồn điền”. Ở triều đại nhà Lê, nhà Nguyễn trị vì, các “đồn điền” thuộc sở hữu của triều đình với mục đích chính là sản xuất ra khối lượng nông sản lớn để phục vụ tiêu dùng nội bộ, nếu dư thừa mới đem trao đổi buôn bán. Cũng với bản chất tương tự các đồn điền, nhưng tên gọi “điền trang” là để chỉ những khu sản xuất nông nghiệp lớn thuộc sở hữu của những người chủ độc lập, thường là quan lại, phú hộ. Thời tư bản chủ nghĩa, khi mà phương thức sản xuất nông nghiệp được tác động bởi các quy luật của kinh tế thị trường và sự phát triển lớn mạnh của cả lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất, hình thức sản xuất tập trung này phát triển lên một trình độ cao hơn.
Mục đích sản xuất không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho tiêu dùng của bản thân mà còn để trao đổi buôn bán nhằm gia tăng thêm thu nhập. Và đối tượng tham gia sản xuất dưới hình thức này mở rộng đến tất cả các cá nhân, tổ chức thông qua việc đi thuê đất đai để thực hiện sản xuất kinh doanh. Phương thức sản xuất tiến bộ hơn, kĩ thuật cao hơn, năng suất sản phẩm lớn hơn. Thời Pháp thuộc, nhiều vùng ở nước ta đã xuất hiện và phát triển các đồn điền, ấp trại với mục đích sản xuất nông sản phẩm để bán.
Ngày nay, trong điều kiện nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hình thức sản xuất tập trung với phương thức sản xuất hiện đại được gọi là “trang trại” hay còn gọi là “nông trại”. Ở Việt Nam, có nhiều nhận thức và quan điểm khác nhau về nông trại. Tác giả Nguyễn Thế Nhã cho rằng: “Nông trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa. Trong đó, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập.
Sản xuất tại trang trại được tiến hành trên quy mô ruộng SV: Lê Thị Hồng Nhung Lớp: QTDNA – K13 Khóa luận tốt nghiệp 6 Khoa Quản trị kinh doanh đất và các yếu tố sản xuất tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và gắn với thị trường”. [14] Ở nước ta, trang trại đã hình thành và phát triển kể từ sau khi có đường lối đổi mới kinh tế. Đầu tiên là Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 05/04/1988 và sau này là Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ban hành ngày 02/02/2000, đặc biệt là kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại, đến nay, kinh tế trang trại trong nước đã thực sự tạo điểm đột phá trong quá trình chuyển nền nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất với mục đích thương mại. Bằng chứng là số lượng các trang trại vẫn liên tục tăng đều qua các năm với quy mô ngày càng lớn hơn, khoa học kĩ thuật ngày càng tiên tiến hơn và năng suất chất lượng ngày càng cao hơn.
Tiêu chí xác định trang trại theo giá trị được quy định như sau: Trước năm 2011, Thông tư số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK quy định giá trị sản lượng hàng hóa bán ra đạt trung bình từ 40-50 triệu đồng trở lên đối với từng loại hình trang trại. [4] Từ năm 2011, Thông tư 27/2011/BNNPTNT mới quy định giá trị sản lượng hàng hóa bán ra đạt trung bình từ 500-1000 triệu đồng trở lên đối với từng loại hình trang trại. [5] Áp dụng tiêu chí mới, năm 2011, cả nước có 20.078 trang trại, sơ bộ năm 2012, cả nước có 22.655 trang trại, tạo ra giá trị 749.325,4 tỷ đồng, tăng 12,8%/năm về số lượng. [18] Sự hình thành và phát triển trang trại tại Việt Nam đã thúc đẩy sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản phát triển, từ đó làm tăng hộ giàu, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân.
Vì vậy, nhà nước và bản thân những người chủ nông cần có những biện pháp tận dụng hơn nữa tiềm năng của các trang trại để gia tăng giá trị kinh tế cho chính trang trại của mình, góp phần phát triển đất nước. Kinh tế trang trại. Để đi đến khái niệm kinh tế trang trại, ta cần phân biệt hai thuật ngữ “Kinh tế trang trại” và “Trang trại”. Kinh tế Trang trại là tổng thể các hoạt động vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại.
Còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế ở trên. Một chủ thể trang trại có thể được xem xét dưới nhiều góc độ. Ngoài mặt kinh tế, trang trại còn có thể có nhiều mặt khác như mặt môi trường và mặt xã hội. Mặt xã hội bao gồm các quan hệ xã hội trong trang trại như quan hệ giữa những người làm trong trang trại.
Về mặt môi trường thì trang trại là một không gian sinh thái, trong đó có các quan hệ sinh thái đa dạng. Ngoài ra còn có thể đứng ở góc độ SV: Lê Thị Hồng Nhung Lớp: QTDNA – K13 Khóa luận tốt nghiệp 7 Khoa Quản trị kinh doanh văn hóa để thấy được tính lâu đời, nét truyền thống trong sự phát triển của trang trại, văn hóa vùng miền đặc trưng thấm vào trong mỗi trang trại. Vậy, khái niệm kinh tế trang trại là một khái niệm nhỏ hơn khái niệm “trang trại” nhưng mặt kinh tế vẫn là mặt được thể hiện và quan tâm nhiều nhất trong trang trại nên thông thường người ta thường sử dụng 2 thuật ngữ này với mục đích tương đương. Các quá trình kinh tế diễn ra trong trang trại khép kín từ khâu sản xuất, phân phối đến trao đổi, tiêu dùng.
Ngoài hình thức trang trại thì trong nông nghiệp còn có các hình thức cơ sở khác như: kinh tế hộ nông dân, các doanh nghiệp tư nhân, lâm nông trường quốc doanh. Theo Nghị quyết của chính phủ về kinh tế trang trại 03/2000/NQ-CP ban hành ngày 02/02/2000, “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”. [7] Theo đó, kinh tế trang trại có các đặc trưng như sau: Thứ nhất, năng lực sản xuất cao về nông sản hàng hóa do các đặc điểm về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các trang trại quyết định. Thứ hai, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp là người có ý chí, năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm nhất định về sản xuất kinh doanh nông nghiệp và thương là người trực tiếp quản lý trang trại.
Thứ ba, trang trại thường chọn và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến cả trong nuôi trông sản phẩm lẫn công tác quản lý nên năng lực sản xuất được nâng cao cả về số lượng cũng như chất lượng. Thứ tư, do mục đích của trang trại là sản xuất hàng hóa nên hầu hết các trang trại đều kết hợp giữa chuyên môn hóa với phát triển tổng hợp, đây là điểm khác biệt so với hộ sản xuất tự túc, tự cấp. Ngoài ra, trang trại cũng phải có hệ thống ghi chép hạch toán kinh doanh, tổ chức sản xuất khoa học trên cơ sở những kiến thức về nông học, kinh tế thị trường. Phát triển kinh tế trang trại có vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Về mặt kinh tế, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phương thức sản xuất chủ yếu. Vì vậy, nó cho phép huy động khai thác đất đai, sức lao động và một số nguồn lực khác một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu qủa. Nhờ vậy, nó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn nói riêng, phát triển kinh tế xã hội nói chung. Các trang trại hoạt động với kết quả sản xuất cao sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó tạo ra nhiều SV: Lê Thị Hồng Nhung Lớp: QTDNA – K13 Khóa luận tốt nghiệp 8 Khoa Quản trị kinh doanh nông sản, nhất là các sản phẩm làm nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ trong sản xuất.
Hơn nữa, trang trại là đơn vị sản xuất có quy mô lớn hơn kinh tế hộ, vì vậy có khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó gia tăng số hộ giàu ở nông thôn đồng thời nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của người dân.Về mặt môi trường, phát triển kinh tế trang trại góp phần cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái. Việc này cần phải phù hợp với điều kiện tự nhiên từng khu vực, từng địa phương, nhất là ở những địa phương có điều kiện đất đai và điều kiện để sản xuất hàng hóa phục vụ mục đích thương mại, đối với cả tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.