CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan về công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán Khái niệm Công ty chứng khoán có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán [10].
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc lập [9]. Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở thị trường chứng khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán có thể tham gia quá trình trao đổi cổ phiếu trong thị trường với vai trò trung gian [Wikipedia]. Công ty chứng khoán là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cấp giấy phép thành lập và hoạt động để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh sau đây: môi giới chứng khoán; tự doanh chứng khoán; bảo lãnh phát hành chứng khoán; và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Ngoài ra, công ty chứng khoán được nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân, cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác theo quy định của Bộ Tài chính [Văn bản số 27/VBHN-VPQH hợp nhất Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 và Luật Chứng khoán số 62/2010/QH12]. Các khái niệm trên đều nêu bật được vị trí, chức năng và hoạt động chính của công ty chứng khoán. Tóm lại, công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian trên thị trường chứng khoán, có thể thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ chính là: môi giới, tự doanh, tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán. Để thực hiện được mỗi 7 nghiệp vụ trên, các công ty chứng khoán phải đảm bảo mức vốn nhất định và phải được cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền.
Tại Việt Nam, công ty chứng khoán không thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư. Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán 1. Chức năng của công ty chứng khoán CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của TTCK nói riêng. Nhờ các CTCK mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả.
Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán là: - Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành). - Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh). - Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (khả năng chuyển đổi từ chứng khoán ra tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng). - Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò nhà tạo lập thị trường).
Vai trò của công ty chứng khoán Với những chức năng cơ bản trên, CTCK có vai trò quan trọng đối với những chủ thể khác nhau trên TTCK. - Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành, đồng thời thực hiện vai trò trung gian giữa nhà đầu tư và nhà phát hành. - Đối với các nhà đầu tư: Qua các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư.
Sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho các nhà đầu tư tốn kém chi phí, công 8 sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả. - Đối với thị trường chứng khoán: Thứ nhất, CTCK góp phần tạo lập giá cả và điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định.
Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các CTCK. Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên thông qua hoạt động đấu giá. Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường khi dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường. Thứ hai, CTCK góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Cụ thể, CTCK thực hiện bảo lãnh phát hành, tư vấn phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp và thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp. Như vậy, các CTCK giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại.
- Đối với hệ thống ngân hàng: Khi CTCK xuất hiện cùng với TTCK với tư cách là tổ chức trung gian tài chính đã góp phần làm cho kênh huy động vốn trung và dài hạn trở nên thông suốt hơn, dễ dàng hơn, san sẻ bớt gánh nặng cho hệ thống ngân hàng thương mại. - Đối với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK.
Các thông tin CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường; thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành; thông tin về các nhà đầu tư. Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán CTCK hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính. 9 Nhóm nguyên tắc đạo đức: - CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng. - Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm.
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty. - Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin về tài khoản khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước. - CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn. - CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình.
- Ở nhiều nước, các CTCK phải đóng tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường CTCK mất khả năng thanh toán. - Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng. - Các CTCK không được tiến hành các hoạt động có thể khiến khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng. Nhóm nguyên tắc tài chính: - Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của UBCKNN.
Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng. - CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng. - CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình. Công ty chứng khoán không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản.
Phân loại các công ty chứng khoán 1. Phân loại theo tính chất sở hữu Theo tính chất sở hữu, hiện nay có ba loại hình tổ chức CTCK cơ bản: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. a) Công ty hợp danh CTCK hợp danh là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên, trong đó phải có ít nhất 02 thành viên hợp danh ngoài ra còn có thành viên góp vốn. Do đó, CTCK sẽ có được bộ máy tổ chức gọn nhẹ, mức độ phân quyền có tính ổn định, độ tin cậy cao nhưng sẽ bị hạn chế về khả năng huy động vốn.
Loại hình công ty hợp danh thường phù hợp với loại hình kinh doanh tư vấn đầu tư vì hoạt động này đòi hỏi nhân viên hành nghề phải có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao. b) Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty trách nhiệm hữu hạn là một doanh nghiệp trong đó có thể là trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên cùng tham gia góp vốn, thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức.