Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về dịch vụ vận chuyển hàng hóa của doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng cung ứng dịch vụ vận chuyển nội địa với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Công ty Cổ phần Tiếp vận HP Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện cung ứng dịch vụ logistics vận chuyển nội địa với hàng hoá xuất nhập khẩu tại Công ty Cổ phần Tiếp vận HP 10 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN NỘI ĐỊA VỚI HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU 2. Khái quát về dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa 2. Một số khái niệm liên quan Vận chuyển hàng hoá là một trong những mắt xích quan trọng nằm trong hệ thống logistics quốc gia cũng như trong hệ thống logistics của doanh nghiệp.
Ngày nay, hệ thống vận chuyển hiện đại với cước phí thấp đã làm cho khoảng cách giữa người sản xuất và khách hàng được rút ngắn lại, và làm cho nhu cầu của người tiêu dùng trên thế giới ngày càng trở nên đồng nhất hơn. Ở tầm vĩ mô, hoạt động này đã và đang trở thành một trong những ngành đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của từng đất nước và trên toàn cầu, giúp cho các hoạt động lưu thông, chuyên chở hàng hoá được thực hiện nhanh chóng, dễ dàng, đưa sản phẩm, hàng hoá tiếp cận đến tận tay người tiêu dùng. Ở tầm vi mô, vận chuyển là một trong những bộ phận chiếm tỷ lệ chi phí cao, khoảng từ 30% đến 60% tổng chi phí logistics của doanh nghiệp, và có thể chiếm từ 10% đến 20% trong giá bán sản phẩm. Bởi vậy quản trị vận chuyển đòi hỏi phải tính toán và triển khai các phương án tốt nhất nhằm giảm thiểu chi phí và đáp ứng tốt yêu cầu cung cấp hàng hoá của khách hàng tại doanh nghiệp.
Khái niệm logistics Logistics được hiểu là “Quá trình tối ưu hoá về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Trong chuỗi cung ứng, logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tối ưu hoá vị trí của các nguồn tài nguyên. Cấp độ thứ hai liên quan đến việc tối ưu hoá các dòng vận động trong hệ thống.
Khái niệm dịch vụ logistics Trong Luật Thương mại 2005, tại điều 233 quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc 11 các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Khái niệm vận chuyển hàng hoá Vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của hàng hoá và con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiện vận tải. Vận chuyển hàng hóa, xét theo quan điểm quản trị logistics, là sự di chuyển hàng hoá trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận tải nhằm thực hiện các yêu cầu mua bán, dự trữ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Từ các khái niệm được trình bày ở trên, tác giả đã rút ra định nghĩa về vận chuyển hàng hoá nội địa như sau: “Vận chuyển hàng hoá nội địa là một dạng của hoạt động vận chuyển hàng hóa trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia theo yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng và an toàn bằng các phương thức như đường bộ, đường sắt, đường biển và hàng không.
Đối với vận chuyển nội địa bằng đường bộ khá phổ biến, sử dụng chủ yếu bằng container hoặc các loại xe chuyên chở khác như xe tải, xe thùng và xe bồn. Hàng hoá vận chuyển linh hoạt từ khối lượng nhỏ đến lớn hay hàng ở dạng rắn, lỏng. Đặc điểm của dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa Kết quả của quá trình vận chuyển hàng hóa nội địa là một loại sản phẩm dịch vụ, có những đặc điểm cơ bản của một dịch vụ. Bên cạnh đó, dịch vụ vận chuyển hàng hoá chịu tác động trực tiếp từ yếu tố giao thông về thời gian cung ứng dịch vụ, mức độ an toàn.
Dựa theo đặc điểm chung của dịch vụ, có thể chỉ ra dịch vụ vận chuyển nội địa có các đặc điểm sau: Tính không hiện hữu/vô hình (intangibility) Sản phẩm của quá trình vận chuyển này có tính vô hình, nghĩa là các chủ hàng, người sử dụng dịch vụ không nhìn thấy, cân đong, đo đếm như đối với hàng hóa hữu hình. Chỉ khi tiêu dùng rồi thì khách hàng mới có thể thấy được chất lượng của dịch vụ thông qua các tiêu thức như: thời gian vận chuyển nhanh hay chậm, có đúng lịch trình và an toàn không, thủ tục chứng từ có đúng quy cách, rõ ràng không… Tính không lưu giữ được (inventory) Hoạt động vận chuyển chỉ có thể cung ứng khi xuất hiện nhu cầu của khách hàng nên người vận tải không có khả năng sản xuất hàng loạt dịch vụ vận chuyển. Dịch 12 vụ vận chuyển cung ứng ra bao nhiêu thì được sử dụng hết bấy nhiêu, nên nó không có khả năng tồn kho. Chính điều này tạo nên sự mất cân đối cho quan hệ cung cầu vào những thời điểm khác nhau.
Tính không sở hữu Khi dịch vụ vận chuyển được thực hiện với các công việc như vận chuyển, bảo quản, bốc xếp hàng hóa, khách hàng chỉ nhận được kết quả là hàng hóa được di chuyển đến đích, chứ không được chuyển giao quyền sở hữu với phương tiện vận tải, công cụ vận tải như tàu biển, máy bay. Tương tự, hàng hóa được chủ hàng giao cho người vận chuyển, tuy nhiên quyền sở hữu hàng hóa lại không được chuyển giao trong hợp đồng vận chuyển. Tính không tách rời/không thể chia cắt (inseparability) Thể hiện sự đồng thời về cả không gian và thời gian sản xuất và tiêu dùng dịch vụ vận chuyển. Khi khách hàng thuê một người vận chuyển để đưa hàng hóa từ nơi này nơi khác, thì khi hàng hóa được vận chuyển là lúc người vận chuyển đang cung cấp dịch vụ vận chuyển và khách hàng đang tiêu dùng dịch vụ vận chuyển được cung cấp.
Tính không ổn định (inconsistency) Thể hiện ở việc dịch vụ vận tải không giống nhau giữa các lần sử dụng dịch vụ dù là cùng một nhân viên vận chuyển, cùng một nhà cung cấp hay một loại dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ vận tải không bao giờ lặp lại do nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, trình độ của nhân viên, tâm lý, trình độ cảm nhận của khách hàng. Tính thích ứng (adaptability) Do đặc điểm của sản phẩm vận tải là không có sản phẩm dở dang hay bán thành phẩm như các loại hàng hóa hữu hình nên dịch vụ vận tải luôn thích ứng với các yêu cầu thay đổi của người thuê. Bên cạnh những đặc điểm của dịch vụ như trên, dịch vụ vận chuyển hàng hoá nội địa còn có những đặc điểm riêng như: Thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Dịch vụ vận chuyển nội địa sẽ được thực hiện giữa các tỉnh, thành phố thuộc phạm vi khu vực trong một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, không vượt quá phạm vi biên giới.
13 Hàng hoá lưu thông dễ dàng Do đặc điểm được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia nên hàng hoá sẽ được lưu thông dễ dàng do các chính sách, luật lệ được áp dụng là thống nhất trên một vùng lãnh thổ, không có sự khác nhau giữa các thủ tục trong hoạt động vận tải. Khác với vận chuyển hàng hóa quốc tế sẽ phải tuân thủ tất cả luật lệ, chính sách, thủ tục của các quốc gia đi qua, điều này sẽ tạo ra nhiều khó khăn và phức tạp bởi mỗi quốc gia có các luật lệ, chính sách, thủ tục khác nhau. Có chung điều kiện cơ sở hạ tầng Vận chuyển nội địa chỉ hoạt động trong phạm vi một quốc gia nên cơ sở hạ tầng sẽ đồng nhất giữa các khu vực của quốc gia đó. Điều này sẽ tạo ra sự thống nhất trong thực hiện và tạo thuận lợi cho hoạt động vận chuyển được diễn ra liền mạch không bị ngắt quãng.
Khác với hoạt động vận chuyển quốc tế, sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện cơ sở hạ tầng khác nhau. Vai trò của dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa Vận chuyển nội địa sẽ có những vai trò cơ bản như vai trò của hoạt động vận tải nói chung. Vận chuyển nội địa đóng góp một phần giá trị gia tăng về không gian và thời gian cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia. Dưới đây là một số vai trò cơ bản của dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa: Thứ nhất, đáp ứng yêu cầu của khách hàng về vị trí, nói cách khác là sản phẩm có giá trị khi nó đến được tay người tiêu dùng ở đúng nơi người ta cần đến nó.
Thứ hai, đáp ứng yêu cầu về mặt thời gian, chính việc lựa chọn phương án, tuyến đường và cách thức tổ chức vận chuyển hàng hóa sẽ quy định các lô hàng còn đến đúng vị trí yêu cầu vào thời điểm cần thiết hay không. Nếu vận chuyển chậm trễ, hàng hóa đến vào những thời điểm không thích hợp sẽ gây phiền phức cho khách hàng và có thể làm tăng thêm chi phí dự trữ. Giá trị gia tăng ở đây chính là việc khách hàng nhận được sản phẩm đúng nơi và đúng lúc. Thứ ba, vận chuyển hàng hóa liên kết rất nhiều doanh nghiệp và tổ chức tham gia trong một chuỗi cung ứng hàng hóa.
Đây là quá trình tác động về mặt không gian lên đối tượng chuyên chở nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực khi dịch chuyển hàng hóa từ các điểm khởi đầu vận động tới điểm tiêu dùng. Các chỉ tiêu đặc thù 14 của hoạt động vận chuyển hàng hóa là tốc độ, thời gian, tính an toàn, tính ổn định, tính linh hoạt,. cần được chú ý để được đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng. Thứ tư, đảm bảo dòng chảy hàng hóa ổn định trong nước.
Vận chuyển hàng hóa nội địa giúp đảm bảo hàng hóa lưu thông từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Điều này giúp cung ứng các sản phẩm thiết yếu và tăng tính sẵn có của hàng hóa trong thị trường nội địa. Phân loại dịch vụ vận chuyển hàng hóa nội địa 2.