Chương 1: Tổng quan về đề tài “Hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ logistics đường hàng không tại công ty TNHH Tiếp vận AVC Việt Nam”. Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về cung ứng dịch vụ logistics đường hàng không tại công ty logistics. Chương 3: Thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ logistics đường hàng không tại công ty TNHH Tiếp vận AVC Việt Nam. 4 Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ logistics đường hàng không tại công ty TNHH Tiếp vận AVC Việt Nam.
5 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TẠI CÔNG TY LOGISTICS 2. Khái quát về dịch vụ logistics tại các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics 2. Khái niệm và vai trò của dịch vụ logistics 2. Khái niệm, bản chất của logistics, dịch vụ logistics Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế (Giáo trình quản trị logistics kinh doanh, 2018).
Theo đó, logistics được xem như chuỗi các hoạt động liên tục nhằm đảm bảo nguồn lực cho thực thể lớn hơn - chuỗi cung ứng. Hoạt động logistics được xem như là một công cụ tạo ra lợi thế cạnh tranh, tạo ra giá trị gia tăng nội sinh (endogenous value added) cho sản phẩm thông qua lợi ích về thời gian, về địa điểm cung ứng,. Trong giới hạn của nghiên cứu này, tác giả tập trung sử dụng định nghĩa dựa trên cách tiếp cận trên nhằm nói tới vai trò của logistics trong việc gia tăng giá trị cho sản phẩm cung ứng tới khách hàng, qua đó trực tiếp tạo thêm giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Khái niệm dịch vụ logistics được chính thức hóa trong Luật thương mại năm 2005 (Điều 233) và Nghị định 140/2007 NĐ-CP, quy định: “ Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Logistics và dịch vụ logistics là hai khái niệm có liên quan mật thiết với nhau. Logistics là một lĩnh vực rộng lớn bao gồm các hoạt động liên quan đến việc di chuyển hàng hóa từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ. Dịch vụ logistics là một phần của ngành logistics tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ logistics cho các doanh nghiệp khác. Trong một chuỗi cung ứng, hoạt động logistics là các hoạt động bổ trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp sản xuất, thương mại.
Dịch vụ logistics là các hoạt động logistics do công ty kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện. Ở góc độ này, dịch vụ logistics và hoạt động logistics về cơ bản là thống nhất với nhau nhưng được tiếp cận từ hai phía là nhà cung cấp và khách hàng sử dụng. Vai trò và đặc điểm của dịch vụ logistics trong nền kinh tế Dịch vụ logistics là sản phẩm của công ty kinh doanh dịch vụ logistics, không chỉ được cung cấp một cách đơn lẻ mà luôn là một chuỗi các dịch vụ (Logistics system chain) do người kinh doanh logistics phối hợp các hoạt động như vận chuyển, tồn trữ, cung ứng nguyên vật liệu, bao bì, đóng gói, ghi ký mã hiệu, làm thủ tục thông quan, gom hàng, tách hàng, quản lý hàng tồn kho, quản lý nguồn hàng, dự báo nhu cầu, quản lý đơn hàng, dịch vụ khách hàng,. để cung ứng thuận tiện nhất cho khách hàng.
Đây là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này cần thiết phải có được sự tin tưởng lẫn nhau giữa nhà cung cấp và khách hàng, điều này quyết định đến tính cạnh tranh của các ngành công nghiệp và thương mại quốc gia. Với một hệ thống logistics được liên kết 6 và phối hợp chặt chẽ giữa các yếu tố trên, ngành dịch vụ logistics thực sự mang lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế của các quốc gia trong thời toàn cầu khóa. - Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong một quốc gia và toàn cầu thông qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường. - Giúp nâng cao hiệu quả quản lý, tối ưu hóa chu trình sản xuất, kinh doanh từ khâu đầu vào đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng - Dịch vụ logistics giúp giảm thiểu chi phí kinh doanh, tiết kiệm và giảm chi phí trong chuỗi cung cấp, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
- Giúp mở rộng thị trường trong thương mại quốc tế, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa hoạt động kinh doanh và vận tải quốc tế. Phân loại dịch vụ logistics Trong Luật thương mại năm 2005 (Điều 233) và Nghị định 140/2007 NĐ/CP, các dịch vụ logistics được chia thành 3 nhóm cơ bản: Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: Dịch vụ bốc xếp, dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải, dịch vụ bổ trợ như tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan, xử lý lại hàng hóa bị trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, gồm: Dịch vụ vận tải hàng hải, vận tải thủy nội địa, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đường ống. Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật, dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ thương mại bán lẻ, dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
Do lĩnh vực logistics ngày càng mở rộng nên có nhiều dịch vụ mới đa dạng với giá trị gia tăng lớn đang xuất hiện tại các doanh nghiệp 3PL, 4PL có thể liệt kê ở đây: - Air freight forwarding (D2D): Giao nhận hàng không (từ cửa tới cửa) - Ocean freight forwarding (D2D): Giao nhận hàng hải (từ cửa tới cửa) - Freight/Carrier management: Quản lý hàng hóa vận chuyển - Consolidation/Cross docking: Gom hàng nhanh tại kho - PO management: Quản lý đơn hàng - Value-added warehousing: Dịch vụ kho bãi giá trị gia tăng Ngoài ra có thể phân loại dịch vụ logistics theo nhóm dịch vụ cơ bản và nhóm dịch vụ giá trị gia tăng giúp định hướng chiến lược kinh doanh tốt hơn cho doanh nghiệp cũng như khách hàng khi lựa chọn sử dụng. Dịch vụ logistics cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng Dịch vụ cơ bản Dịch vụ gia tăng Vận chuyển đầu vào, đầu ra bằng đường Vận chuyển Theo dõi hành trình thủy, đường bộ, đường sắt, hàng không Cross-docking, kiểm soát Kho bãi Lưu trữ, quản lý mạng lưới kho hàng hàng tồn kho Công nghệ Cung cấp và duy trì hệ thống thông tin Hệ thống quản lý vận thông tin tiên tiến chuyển, quản lý kho bãi Logistics Tái chế, trả lại khách Thực hiện dòng logistics ngược ngược hàng, sửa chữa Các dịch vụ Môi giới hải quan, tư vấn, khác dịch vụ cảng (Nguồn: An Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2018) 2. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics 2. Khái niệm, vị trí của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics trong các chuỗi cung ứng hàng hóa Theo Luật thương mại năm 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp logistics hay các nhà cung cấp dịch vụ logistics là các tổ chức kinh doanh dịch vụ logistics, có khả năng cung cấp các các dịch vụ logistics chuyên nghiệp cho khách hàng, họ trực tiếp quản lý và kiểm soát hoạt động logistics cho các khách hàng thuê họ thực hiện. Thông thường các nhà cung cấp dịch vụ logistics nằm ngoài các doanh nghiệp sản xuất và thương mại trong các chuỗi cung ứng, nhưng một vài trường hợp đặc biệt họ cũng có thể là công ty con trong các tập đoàn kinh doanh lớn. Về mặt vị trí, các doanh nghiệp logistics đứng ở vị trí kết nối các giao dịch về hàng hóa giữa các nhà cung cấp và khách hàng trong chuỗi cung ứng. Với vị trí này, các doanh nghiệp logistics cung cấp những lợi thế rất lớn cho các chuỗi cung ứng cũng như toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là những nền kinh tế có độ mở lớn.
Các doanh nghiệp logistics tạo ra thị trường cung ứng dịch vụ logistics để đáp ứng yêu cầu cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp này. - Giúp các các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng tập trung vào việc phát triển các năng lực cốt lõi, tăng tính chuyên môn hóa trong kinh doanh. - Giảm chi phí đầu tư vào logistics và tài sản logistics, giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh và cung ứng hàng hóa. Vị trí của doanh nghiệp logistics trong các giao dịch của chuỗi cung ứng (Nguồn: An Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2018) - Hỗ trợ doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng cải thiện tính linh hoạt, tăng tốc độ cung ứng hàng hóa, nâng cao chất lượng cung ứng và mức dịch vụ khách hàng.
- Giúp mở rộng nhanh chóng mạng lưới kinh doanh và thị trường, hỗ trợ quảng bá hình ảnh doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Phân loại các doanh nghiệp dịch vụ logistics a. Phân loại doanh nghiệp logistics theo mức độ cung ứng dịch vụ Để phục vụ cho mục tiêu thuê ngoài dịch vụ logistics, có thể phân biệt các doanh nghiệp logistics dựa vào các tiêu thức khác nhau. Năng lực cung cấp dịch vụ là yếu tố được quan tâm hàng đầu khi lựa chọn và chia doanh nghiệp logistics thành các nhóm sau: Logistics bên thứ nhất hay logistics tự cung ứng (1PL - First Party Logistics): Chỉ những người sở hữu hàng hóa trong chuỗi cung ứng tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanh nghiệp.
các công ty 1PL có thể sở hữu phương tiện vận tải, ở nhà, thiết bị xếp dỡ, các nguồn lực khác bao gồm con người để thực hiện có các hoạt động logistics. Logistics bên thứ hai (2PL - Second Party Logistics): Là những doanh nghiệp có khả năng cung cấp những dịch vụ logistics đơn lẻ cho khách hàng nhưng chưa tích hợp được nhiều dịch vụ với nhau (chỉ đàm nhận một khâu hoặc rất ít khâu trong chuỗi logistics).