Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng, một thực tế tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Mỗi quốc gia đều giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội theo những mức độ, cách thức khác nhau tuỳ thuộc vào những điều kiện, tập quán, pháp luật của mỗi nước.Thuật ngữ người chưa thành niên được dùng phổ biến trong các ngành khoa học khác nhau như: Luật học, Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục học… Dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành khoa học tự đặt ra cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau nhằm đạt được những mục đích khác nhau liên quan đến người chưa thành niên. Trong TTHS hình sự, khái niệm người chưa thành niên được các nhà lập pháp hình sự sử dụng với hai tư cách, hoặc là đối tượng tác động của tội phạm hoặc là chủ thể của tội phạm. Nghiên cứu về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì khái niệm người chưa thành niên được đề cập với tư cách là chủ thể của tội phạm.
Khái niệm bị can, bị cáo là ngƣời chƣa thành niên trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm người chưa thành niên Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý, nhân cách sống. Người ở độ tuổi này chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, nhân cách; có sự hạn chế về kinh nghiệm sống, kiến thức pháp luật, dễ bị tác động, chi phối bởi điều kiện sống; chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành vi mà mình thực hiện, khả năng tự kiềm chế chưa tốt. Khái niệm người chưa thành niên được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, luật học.
Tuy nhiên, tùy theo các góc độ, lĩnh vực mà khái niệm này được hiểu khác nhau. Theo nhà tâm lý học G.Stanley Hall, thời kỳ chưa thành niên là thời kỳ quá độ tuổi trẻ em chuyển lên người lớn và là thời kỳ gắn liền với những xung đột, xáo trộn tâm trạng, nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc đang trưởng thành [22]. Quá trình phát triển của một đứa trẻ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành được các nhà khoa học phân chia thành các giai đoạn khác nhau, trong đó có giai đoạn chưa thành niên, nhưng việc xác định cụ thể thời điểm bắt đầu, kết thúc tuổi chưa thành niên còn có nhiều ý kiến khác nhau (tuổi chưa thành niên từ 14 -17 tuổi; 11 - 15 tuổi; 12 - 15 tuổi; hoặc nam là từ 14 - 16 tuổi, nữ là từ 11 - 13 tuổi; hoặc nam từ 12- 17 tuổi, nữ là từ 12 - 15 tuổi) [16, tr. Hiện nay, luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về người chưa thành niên.
Trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế về người chưa thành niên và quyền trẻ em cũng như các văn bản pháp luật Việt Nam như: Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 1999, Quy tắc Bắc Kinh năm 1985, Hướng dẫn Riat năm 1990, Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 18), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. đều chỉ quy định, định nghĩa người chưa thành niên theo độ tuổi, cụ thể: Công ước quốc tế về quyền trẻ em ghi nhận: “Trong phạm vi của công ước này, Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [25]. Theo cách hiểu thông thường, từ “Trẻ em” có nghĩa là người chưa thành niên. Theo điều này Công ước đã ghi nhận, khái niệm người chưa thành niên được hiểu là mọi trẻ em dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia có quy định khác.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" [24, số 2.2 mục a] Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 quy định: "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên" [27, số 2. Như vậy, có thể thấy rằng, khi đưa ra khái niệm về trẻ em hay người chưa thành niên, trong pháp luật quốc tế không dựa vào đặc điểm tâm - sinh lý hay sự phát triển thể chất, tinh thần. mà trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xác định độ tuổi.
Kể cả khái niệm trẻ em và khái niệm người chưa thành niên đều giới hạn là dưới 18 tuổi, đồng thời đưa ra khả năng mở cho các quốc gia tùy điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, truyền thống của mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn. Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [73]. Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em. Theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [42, Điều 1]. Bộ luật 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân sự Việt Nam năm 2005 ghi nhận: “…Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” [43, Điều 18]. Bộ luật hình sự 1999 quy định: “1.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [39, Điều 12]. Bộ luật hình sự cũng quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia.
Theo đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên. Trong khoa học luật hình sự, có không nhiều các định nghĩa về NCTN, với nội dung chủ yếu nhắc lại quy định của pháp luật và đưa ra khái niệm trên cơ sở độ tuổi "người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" hoặc tiếp cận ở giác độ rất hẹp - NCTN phạm tội. Theo Theo GS.TSKH Lê Cảm và TS. Đỗ Thị Phượng thì “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” [8, tr.
TS Trịnh Tiến Việt định nghĩa như sau: "Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm - sinh lí, chưa có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện" [76]. Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam là người dưới mười tám tuổi chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm bị can là người chưa thành niên Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) thì bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.
Thuật ngữ “bị can” đã được sử dụng trong Sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán và trong nhiều văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác nhưng vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về bị can. Sắc lệnh số 13 có một số quy định như: Khi bắt người trong hai trường hợp kể trên, ban tư pháp phải lập biên bản hỏi cung và giải bị can lên ngay Tòa án trên trong hạn 24 giờ là cùng [11, Điều 5]. Sau khi nghe các bị can, các người chứng, cáo trạng của Chưởng lý, và sau cùng nghe lời cãi của các bị can, ông Chánh án, hai Hội thẩm, hai Phụ thẩm nhân dân lui vào phòng nghị xử để cùng quyết nghị về tất cả các vấn đề thuộc về tội vong, hình phạt, trường hợp tăng tội và trường hợp giảm tội [11, Điều 41]. Ta có thể thấy, trong giai đoạn điều tra và cả giai đoạn xét xử thì người bị buộc tội đều được gọi là bị can.
Như vậy, vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng phân biệt được rành mạch bị can và bị cáo trong thời kỳ này. Lần đầu tiên chúng ta biết đến khái niệm bị can khi nó được quy định tại Điều 34 BLTTHS năm 1988. Theo đó, một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc xác định một người có tư cách bị can từ khi nào là điều rất quan trọng.
Bởi vì, khi một người phát sinh tư cách bị can đồng nghĩa với việc người đó sẽ có các quyền và nghĩa vụ của bị can.