Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện đánh giá thực hiện công việc tại Công ty cổ phần sân golf Hà Nội”. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản vể đánh giá thực hiện công việc trong doanh nghiệp. Chương 3: Phân tích thực trạng đánh giá thực hiện công việc tại Công ty cổ phần sân golf Hà Nội. Chương 4: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện đánh giá thực hiện công việc tại Công ty cổ phần sân golf Hà Nội.
5 CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỂ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2.1 Quản trị nhân lực Theo TS Mai Thanh Lan (2016), Quản trị nhân lực được hiểu là tổng hợp các hoạt động quản trị liên quan đến việc hoạch định nhân lực, tổ chức quản trị nhân lực, tạo động lực cho người lao động và kiểm soát hoạt động quản trị nhân lực trong tổ chức/ doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu và chiến lược đã xác định. Nguyễn Ngọc Quân (2012) thì Quản trị nhân lực là tất cả các hoạt động của tổ chức để xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và gìn giữ một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng, quản trị nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức, giúp cho tổ chức tồn tại, phát triển trong cạnh tranh. Từ các khái niệm trên có thể hiểu Quản trị nhân lực là công tác quản trị yếu tố con người thông qua các hoạt động tuyển dụng, đào tạo, bố trí và sử dụng nhân lực, đánh giá thực hiện công việc, đãi ngộ nhân lực để đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.2 Công việc 6 Theo TS Mai Thanh Lan (2016), nghĩa rộng: công việc là một số hoạt động cụ thể phải hoàn thành nếu tổ chức/doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu của mình. Theo cách hiểu này công việc có thể đòi hỏi một số công tác cụ thể do một người thực hiện hoặc một số công tác của hàng chục, thâm chí hàng trăm người thực hiện, ví dụ công việc bán hàng của một doanh nghiệp thương mại.Theo nghĩa hẹp: công việc là tất cả những nhiệm vụ được thực hiện bởi một người lao động hoặc là tất cả những nhiệm vụ giống nhau được thực hiện bởi một số NLĐ.
Nguyễn Ngọc Quân (2012), công việc là tất cả những nhiệm vụ được thực hiện bởi một NLĐ hoặc tất cả những nhiệm vụ giống nhau được thực hiện bởi một số NLĐ. Theo tiếp cận của chúng tôi trong quá trình làm khóa luận thì công việc là tập hợp các nhiệm vụ được giao phó cho một vị trí, một cá nhân hoặc một nhóm NLĐ nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.3 Đánh giá thực hiện công việc Theo PGS. Nguyễn Ngọc Quân (2012) ĐGTHCV thường được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của NLĐ trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với NLĐ.ĐGTHCV là một hoạt động quản lí nguồn nhân lực quan trọng và luôn luôn tồn tại trong tất cả các tổ chức. Mặc dù ở các công ty nhỏ, ĐGTHCV có thể được thực 7 hiện một cách không chính thức thông qua sự đánh giá hàng ngày của người giám sát với các nhân viên và sự đánh giá, góp ý lẫn nhau giữa các nhân viên nhưng hầu hết các tổ chức đều xây dựng cho mình một hệ thống đánh giá chính thức.
Trong một hệ thống chính thức, tình hình hoàn thành nhiệm vụ lao động của từng NLĐ được đánh giá theo những khoảng thời gian được quy định với sự sử dụng những phương pháp đánh giá đã được thiết kế một cách có lựa chọn, tùy thuộc vào mục đích của đánh giá. Lê Quân (2013)ĐGTHCV là quá trình cung cấp các thông tin về quá trình thực hiện công việc của cán bộ công nhân viên trong một kì kinh doanh nhất định. Kết quả đánh giá thành tích cho phép làm rõ mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân và đơn vị. Đánh giá năng lực thực hiện công việc là những đánh giá nhằm xác định yếu tố tiềm năng của nhân sự so với các yêu cầu vị trí công việc nhất định nào đó.
Đánh giá mức độ hoàn thành công việc là những đánh giá nhằm xác định mức độ hoàn thành công việc của nhân lực so với những tiêu chuẩn của tổ chức đã đề ra. Trên thực tế có nhiều trường hợp NLĐ phải làm việc theo một nhóm hoặc một tổ, đội. Khi đó cần phải đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm và mức đóng góp (thực hiện công việc) của từng người. Tuy nhiên việc đánh giá sẽ không được coi là đầy đủ nếu chỉ dừng lại ở đánh giá mức độ hoàn thành công việc của cả nhóm.
Như vậy có thể hiểu ĐGTHCV là đánh giá mức độ hoàn thành các nhiệm vụ mà NLĐ được giao khi làm việc cá nhân và làm việc nhóm.4 Công tác đánh giá thực hiện công việc Công tác ĐGTHCV là hoạt động, cách thức được thực hiện để ĐGTHCV của NLĐ trong doanh nghiệp nhằm nhận định về năng lực thực hiện công việc và mức độ hoàn thành công việc của nhân lực trong một khoảng thời gian nhất định. Quá trình ĐGTHCV ở một mức độ nào đó chính là sự mở rộng của thiết kế công việc và có những tác động cơ bản tới tổ chức nói chung.2 Nội dung đánh giá thực hiện công việc trong doanh nghiệp ĐGTHCV trong doanh nghiệp được thực hiện theo quy trình: Thiết kế ĐGTHCV Triển khai ĐGTHCV Phỏng vấn ĐGTHCV Sử dụng kết quả ĐGTHCV 9 Thiết kế ĐGTHCV là công tác xây dựng chương trình ĐGTHCV hoàn chỉnh, bao gồm các nội dung cụ thể: mục tiêu và chu kì đánh giá, tiêu chuẩn, phương pháp, đối tượng ĐGTHCV. Triển khai ĐGTHCV: thu thập thông tin về mức độ hoàn thành công việc và năng lực thực hiện công việc và duy trì hệ thống đánh giá (truyền thông đánh giá, đào tạo ĐGTHCV). Phỏng vấn ĐGTHCV: trao đổi thông tin giữa người đánh giá và người được đánh giá để đưa ra kết quả ĐGTHCV.
Sử dụng kết quả ĐGTHCV: kết quả ĐGTHCV được sử dụng trong các hoạt động QTNL như tuyển dụng, đào tạo, bố trí sử dụng NL, đãi ngộ… 2.1 Thiết kế đánh giá thực hiện công việc 2.1 Xác định mục tiêu ĐGTHCV Xác định mục tiêu ĐGTHCV là xác định rõ đánh giá nhằm đo lường cái gì? Mục tiêu đánh giá sẽ quyết định đến tính hình thức và tính hiệu quả của hệ thống. Mục tiêu tổng quát của ĐGTHCV đó là xây dựng được chương trình ĐGTHCV đảm bảo tính khoa học và phù hợp với công việc. Mục tiêu cụ thể: trong một giai đoạn cụ thể doanh nghiệp sẽ có những mục tiêu riêng gắn với ĐGTHCV. ĐGTHCV có thể được thực hiện nhằm đo lường: 10 - Kết quả thực hiện công việc - Hành vi của người lao động trong khi thực hiện công việc - Kĩ năng của người thực hiện công việc - Phẩm chất của người thực hiện công việc.2 Xác định tiêu chuẩn đánh giá thực hiện công việc Tiêu chuẩn ĐGTHCV có thể xem là bộ thước đovà tiêu chuẩn về mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đối tượng thực hiện công việc (bộ phận hoặc cá nhân) trong từng doanh nghiệp.
Các tiêu chuẩn ĐGTHCV có thể là số lượng, chất lượng, hoàn thành đúng tiến độ công việc, khả năng phối hợp công việc. Xác định tiêu chuẩn ĐGTHCV bao gồm việc xác định các nội dung và tiêu chuẩn đánh giá phù hợp với từng công việc cụ thể trong doanh nghiệp. Nói cách khác thì xác định tiêu chuẩn là việc xác định xem đối với từng công việc thì chúng ta đánh giá những nội dung gì, sử dụng tiêu chuẩn nào và yêu cầu cụ thể với NLĐ ra sao. Để có thể đánh giá có hiệu quả, các tiêu chuẩn cần được xây dựng một cách hợp lý và khách quan, tức là phản ánh được các kết quả và hành vi cần có để thực hiện thắng lợi một công việc.
Do đó yêu cầu đối với các tiêu chuẩn ĐGTHCV là: Tiêu chuẩn phải cho thấy những gì NLĐ cần làm trong công việc và cần phải làm tốt đến 11 mức nào? Các tiêu chuẩn phải phản ánh được một cách hợp lí các mức độ yêu cầu về số lượng và chất lượng của thực hiện công việc, phù hợp với đặc điểm của từng công việc.3 Lựa chọn đối tượng đánh giá Người đánh giá có thể là: hội đồng đánh giá, đồng nghiệp đánh giá, tự đánh giá, nhân viên đánh giá cán bộ, cán bộ quản lí trực tiếp đánh giá. Hội đồng đánh giá là hình thức được dùng khá phổ biến ở các doanh nghiệp lớn, thường sử dụng hội đồng dánh giá gồm tối thiểu 3 người, hội đồng đánh giá thường xem lại kết quả đánh giá của các đơn vị, kết quả tự đánh giá. Đồng nghiệp đánh giá có thể mang lại nhiều kết luận và nhận xét sâu sắc hơn, tuy nhiên có thể thiếu chính xác do các vấn đề ghen tị, chủ quan và có thể là sự cạnh tranh giữa các đồng nghiệp. Hình thức tự đánh giá là rất cần thiết, có thể bổ trợ cho hình thức đánh giá bởi cán bộ quản lí trực tiếp nhưng có hạn chế là người được đánh giá quá khiêm tốn hoặc tự đề cao mình.
Nhân viên đánh giá cán bộ cho phép cán bộ biết họ được nhân viên đánh giá ra sao và có thể điều chỉnh phương pháp quản lí cho phù hợp, tuy nhiên quá trình đánh giá này phải được đánh giá kín. Cán bộ quản lí trực tiếp đánh giá: cán bộ quản lí trực tiếp luôn đồng hành cùng người được đánh giá nên có nhiều thông tin để đánh giá công bằng, khách quan.4 Lựa chọn chu kì đánh giá Chu kì ĐGTHCV được hiểu là một giai đoạn tính từ khi bắt đầu tiến hành công tác ĐGTHCV cho tới khi “chốt sổ” tổng hợp kết quả đánh giá. Chu kì đánh giá thường là tuần, tháng, quý, sáu tháng, một năm. Việc lựa chọn chu kì đánh giá nào tùy thuộc vào mục tiêu của hệ thống đánh giá thành tích, mỗi chu kì đánh giá đều có những ưu nhược điểm riêng.5 Lựa chọn phương pháp đánh giá thực hiện công việc (Theo PGS.
Nguyễn Ngọc Quân, 2012) a. Phương pháp thang đo đánh giá đồ họa Trong phương pháp này người đánh giá sẽ cho ý kiến đánh giá về sự thực hiện công việc của đối tượng đánh giá dựa trên ý kiến chủ quan của mình theo một thang đo từ thấp đến cao.