CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA CƠ QUAN XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỘC LẬP 1.1 Giới thiệu về cơ quan xếp hạng tín dụng độc lập 1.1 Khái niệm cơ quan xếp hạng tín dụng độc lập Cơ quan xếp hạng tín dụng độc lập là tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng (Credit Reporting Service Provider), điều hành quá trình trao đổi thông tin tín dụng qua mạng. Quá trình trao đổi thông tin tín dụng qua mạng là một cơ chế cho phép thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tín dụng cho người sử dụng dữ liệu, cũng như cung cấp các giá trị gia tăng dựa trên cơ sở dữ liệu này. Cơ quan xếp hạng tín dụng độc lập thu thập dữ liệu từ các chủ nợ và các nguồn công khai có sẵn về lịch sử tín dụng của người vay; xử lý, lưu trữ và cung cấp theo một định dạng nhất định cho người sử dụg.
Cơ quan xếp hạng tín dụng độc lập có trách nhiệm chính trong đảm bảo an toàn và hiệu quả của hệ thống thông tin tín dụng; đồng thời chịu trách nhiệm về tính bền vững của hoạt động, báo cáo cho các cổ đông (nếu có), tuân thủ các yêu cầu quản lý, cơ chế quản trị, vấn đề nhân sự, và xử lý khiếu nại của người tiêu dùng.2 Phân loại cơ quan xếp hạng tín dụng độc lập Có nhiều cách phân loại cơ quan xếp hạng tín dụng độc lập, đề tài chọn cách phân loại theo IFC, trong đó, TTTTTD có thể được tạm chia thành ba nhóm tương đối đồng nhất, nhưng không phải là loại trừ nhau: văn phòng thông tin tín dụng (credit bureaus), cơ quan đăng ký tín dụng (credit registries) và công ty thông tin tín dụng thương mại (commercial credit reporting companies). Nội dung cơ sở dữ liệu, khách hàng, các sản phẩm và dịch vụ liên quan do 3 nhóm nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng có sự khác biệt giữa các quốc gia.1 cho thấy các thị trường khác nhau được phục vụ bởi các TTTTTD và mức độ chồng lấn giữa chúng.Có sự khác biệt rõ rệt giữa ba loại hình TTTTTD về những điểm mạnh và điểm yếu, các mô hình hoạt động, và thị trường mà họ phục vụ.Tất cả ba loại hình TTTTTD có thể cùng tồn tại trong một thị trường nhất định dựa trên cơ sở quy mô thị trường, khẩu vị thị trường, mức độ phát triển tài chính, và văn hóa tín dụng. Luan van 7 Hình 1.1 : Thị trường phục vụ của TTTTTD (Nguồn: IFC 2012) 1.1 Văn phòng thông tin tín dụng (credit bureaus) Văn phòng thông tin tín dụng, thường do khu vực tư nhân sở hữu và vận hành, cung cấp thông tin tín dụng của khách hàng vay cá nhân, các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cho các nhà cung cấp tín dụng đa dạng. Họ thu thập thông tin theo một định dạng tiêu chuẩn từ nhiều nhà cung cấp tín dụng, bao gồm các ngân hàng, các công ty thẻ tín dụng và tổ chức tài chính phi ngân hàng khác.
Họ cũng thu thập và cung cấp nhiều thông tin công khai có sẵn như bản án, thông báo phá sản, và thông tin danh bạ điện thoại, và/hoặc tạo điều kiện truy cập vào cơ sở dữ liệu của bên thứ ba như các trung tâm đăng ký thế chấp. Thông tin cũng được thu thập từ người chia sẻ dữ liệu không truyền thống như cho vay bán lẻ và dữ liệu thanh toán từ các nhà cung cấp dịch vụ khí đốt, nước, điện, cáp, điện thoại, internet, và các dịch vụ khác, điều này cho phép văn phòng thông tin tín dụng xây dựng các báo cáo tín dụng tốt hơn và toàn diện hơn. Theo số liệu điều tra của Doing Bussiness, hơn 40% văn Luan van 8 phòng thông tin tín dụng có thông tin từ các nhà cung cấp dịch vụ công, và hơn 50% có thông tin từ các tổ chức tài chính vi mô trong cơ sở dữ liệu của họ (xem hình 1. Việc mở rộng các nguồn dữ liệu là có lợi cho những người vay cá nhân không tiếp cận được ngân hàng và các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, bởi vì nó cho phép các văn phòng thông tin tín dụng xây dựng bộ dữ liệu về lịch sử tín dụng mà không nhất thiết đã tiếp cận tín dụng chính thức, do đó, khắc phục cái bẫy không đủ điều kiện để cấp tín dụng do không có dữ liệu về lịch sử tín dụng trước đây.1 Nguồn cung cấp thông tin của các văn phòng thông tin tín dụng (credit bureaus) (Nguồn: IFC calculation based on Doing Business Indicators 2012) Một khi dữ liệu được thu thập, nó được kiểm tra để xây dựng báo cáo tín dụng về mỗi người vay, sau đó, được bán cho người cho vay.
Báo cáo tín dụng là một hồ sơ toàn diện về bên vay hoặc thông tin cá nhân của khách hang vay tiềm năng và các thông tin về tài khoản tín dụng của khách hang vay. Phần thông tin cá nhân thường bao gồm tên của người vay, tên trước đây, số nhận dạng (chẳng hạn như an Luan van 9 sinh xã hội, số chứng minh thư hay số nhận dạng quốc gia khác), ngày tháng năm sinh, địa chỉ, thông tin tuyển dụng, cảnh báo (như trộm cắp ID hoặc tình trạng đóng băng thẻ an sinh xã hội), và ngày cập nhật thông tin. Phần tóm tắt tín dụng (credit summary section) thường có chứa thông tin về tài khoản tín dụng của tất cả các khách hàng vay (cả mở và đóng), đánh giá liệu các tài khoản đó ở vị thế tốt (Số tiền vay nợ trong quá khứ và lịch sử hành vi trả nợ), và những thông tin điều tra về người vay trong thời gian qua. Báo cáo cũng bao gồm lịch sử trả nợ, ghi nhận thanh toán trong khoảng thời gian 12 đến 24 tháng.
Báo cáo thường được cung cấp cho người cho vay dưới dạng điện tử và những chủ nợ lớn nhất hiện nay có các báo cáo tín dụng tích hợp trực tiếp vào hệ thống xử lý cho vay của họ và phần mềm gốc. Để được cung cấp các báo cáo tín dụng, những người cho vay sẽ thanh toán cho văn phòng thông tin tín dụng dưới hình thức một khoản lệ phí đăng ký, lệ phí cho mỗi truy vấn có giảm giá tùy theo số lượng, hoặc kết hợp cả hai. Trước đây, văn phòng thông tin tín dụng chỉ được thu thập thông tin cá nhân. Trong những năm gần đây, với việc mở rộng cho vay doanh nghiệp nhỏ và những tiến bộ trong công nghệ thông tin, nhiều văn phòng thông tin tín dụng có thể đối chiếu và bán các báo cáo về các doanh nghiệp nhỏ.
Việc thu thập thông tin của cả cá nhân và doanh nghiệp tại văn phòng thông tin tín dụng cho phép đánh giá tổng hợp tình hình kinh doanh của một doanh nghiệp và chủ sở hữu của nó. Lịch sử tín dụng của một chủ doanh nghiệp nhỏ là một dự báo quan trọng về rủi ro tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ, bởi vì chủ các doanh nghiệp nhỏ thường kết hợp tài chính cá nhân và doanh nghiệp. Trong khi văn phòng thông tin tín dụng có quyền truy cập vào một loạt các dữ liệu và cung cấp một loạt các dịch vụ để hỗ trợ người cho vay trong quá trình xét duyệt cho vay, mô hình kinh doanh thường dựa trên sự chia sẻ thông tin một cách tự nguyện của các các nhà cung cấp dữ liệu (thường liên quan đến một thỏa thuận có đi có lại). Trong giai đoạn hình thành môi trường thông tin tín dụng, có thể có tâm lý phản đối quan điểm chia sẻ thông tin từ một số nhà cung cấp dữ liệu tiềm năng, Luan van 10 phổ biến nhất là các tổ chức lớn hơn không muốn chia sẻ dữ liệu khách hàng vì lo ngại mất thị phần của họ.
Trong những trường hợp này, thẩm quyền của ngân hàng trung ương với tư cách là người giám sát hệ thống thông tin tín dụng hoặc cơ quan giám sát những người cho vay, thông qua khả năng của mình để thuyết phục tham gia trong môi trường chia sẻ dữ liệu, có thể có tác dụng xúc tác sâu sắc trong việc hình thành những thực tiễn tốt.2 Cơ quan đăng ký tín dụng (credit registries) Về mặt lịch sử,cơ quan đăng ký tín dụng có mục đích khác với văn phòng thông tin tín dụng. Hầu hết các cơ quan đăng ký tín dụng thuộc sở hữu và điều hành bởi khu vực công như ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát tài chính – tiền tệ khác, bởi vì các cơ quan này chịu trách nhiệm trực tiếp giám sát an toàn và giám sát rủi ro trong một nền kinh tế. Phần lớn các cơ quan đăng ký tín dụng khởi đầu như một cơ sở dữ liệu nội bộ của ngân hàng trung ương và trong nhiều trường hợp, đã và vẫn đang được sử dụng như một cơ chế giám sát để nhận dạng rủi ro hệ thống trong danh mục cho vay của các định chế tài chính. Do vậy, các cơ sở dữ liệu này tập trung chủ yếu vào các khoản tín dụng lớn, thông thường là các khoản vay vượt quá 5.
Ban đầu, thông tin trong cơ quan đăng ký tín dụng được sử dụng chỉ duy nhất cho mục đích nội bộ, nhưng, trong trường hợp không có báo cáo tín dụng của các nhà cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng khác trong nhiều quốc gia (bao gồm cả Trung Quốc, Pháp, Malaysia, và Indonesia), thông tin của các cơ quan đăng ký tín dụng được cung cấp cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng dưới hình thức báo cáo tín dụng. Với sự tăng trưởng của tín dụng tiêu dùng, các ngưỡng giá trị cho vay đã giảm hoặc bãi bỏ, và, trong một số quốc gia (ví dụ như Pháp, Argentina, Tây Ban Nha, Peru, Ý và Bỉ…), các cơ quan đăng ký tín dụng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tương tự như các văn phòng thông tin tín dụng. Nói chung, tất cả các tổ chức tài chính chịu sự quản lý của NHTW hoặc cơ quan giám sát ngân hàng phải cung cấp dữ liệu cho các cơ quan đăng ký tín dụng (xem hình 1. Đổi lại, cơ quan đăng ký tín dụng sẽ cung cấp các báo cáo tín dụng cho tất cả các tổ chức tài chính, trong đó cho thấy rủi ro tín dụng hiện hành của các Luan van 11 tổ chức tài chính.
Mức độ bao quát của các cơ quan đăng ký tín dụng có xu hướng bị giới hạn bởi phạm vi của các nhà cung cấp dữ liệu (chỉ trong đối tượng các tổ chức tài chính thuộc phạm vi quản lý của cơ quan chức năng).