Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty TNHH đầu tư thương mại Phượng Hoàng. Chương 3: Đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiệc công tác quản trị rủi ro tại Công ty TNHH đầu tư thương mại Phượng Hoàng. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DOANH NGHIỆP 1.Các khái niệm có liên quan 1.Khái niệm về rủi ro và phân loại rủi ro trong doanh nghiệp *Khái niệm Theo các tiêu chuẩn quốc tế của Hiệp hội Kiểm toán nội bộ quốc tế (IIA) định nghĩa Rủi ro là khả năng một sự kiện có thể xảy ra và sẽ có ảnh hướng đến việc đạt được các mục tiêu.
Rủi ro được đánh giá dựa trên sự tác động và khả năng xảy ra. Rủi ro là sự bất trắc xảy ra liên hệ đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi. Thuật ngữ rủi ro sử dụng trong kinh doanh còn có thể hiểu là sự nguy hiểm cần được ngăn ngừa hay được bảo hiểm. Có nhiều khái niệm rủi ro, trong những lĩnh vực khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau: Theo từ điển Tiếng việt: “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”.
Theo từ điển Oxford: “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm, hoặc bị đau đớn, thiệt hại”. Theo quan điểm của các nhà đầu tư, rủi ro lại được định nghĩa là “NPV và IRR dự tính” Theo xác suất thống kê thì “rủi ro là biến cố ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” Theo quan điểm hiện đại “rủi ro là khả năng sẽ xảy ra một kết quả có lợi hay không có lợi từ mối nguy hiểm hiện hữu” Nhìn chung rủi ro được hiểu theo nghĩa không những chỉ là khả năng mà còn là tổn thất của chính bản thân nó, hoặc của một vật thể, hoặc của một chất có sự hiện diện của mối nguy hiểm. Rủi ro trong kinh doanh là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Rủi ro vừa mang đến cơ hội cũng như tạo ra những thách thức cho doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp nhận dạng, phân tích rủi ro một cách kịp thời và chính xác, doanh nghiệp có thể tránh được những tổn thất do rủi ro mang lại và còn có thể nắm bắt được những cơ hội mà rủi ro đem lại. * Phân loại rủi ro Rủi ro căn bản và rủi ro cá biệt: 1 Rủi ro căn bản: bao gồm các thiệt hại thông phàm về nguồn gốc và hậu quả. Đó là các rủi ro, nguyên nhân của hầu hết các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị. Nó tác động trên một vùng rộng lớn hay tất cả dân số, nó không trói vào cá biệt một ai cả.
Vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm loại rủi ro này. Rủi ro cá biệt: là các rủi ro phát sinh từ một số các hiện tượng cá biệt. Các rủi ro mà cá nhân phải gánh chịu, nó không phải chủ thể để toàn xã hội phải quan tâm. Rủi ro này có thể được loại bỏ bởi một số cá nhân thông qua bảo hiểm, ngăn ngừa thiệt hại hoặc một số kỹ thuật giảm thiểu rủi ro khác.
Rủi ro thuần tuý và rủi ro suy đoán: Rủi ro thuần tuý tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời, hay nói cách khác là rủi ro trên đó không có khả năng có lợi cho chủ thể. Rủi ro thuần tuý được phân thành 5 nhóm: Rủi ro cá nhân; Rủi ro về tài sản; Rủi ro pháp lý; Rủi ro phát sinh do sự phá sản của người khác. Rủi ro suy đoán tồn tại khi có một cơ hội kiếm lời cũng như một nguy cơ tổn thất, hay nói cách khác là rủi ro vừa có khả năng có lợi, vừa có khả năng tổn thất. Rủi ro suy đoán có thể được phân loại theo nhóm nguyên nhân như sau: Rủi ro do thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản lý; Rủi ro do kém khả năng cạnh tranh; Rủi ro do sự thay đổi thị hiếu của khách hàng; Rủi ro do lạm phát; Rủi ro do điều kiện không ổn định của thuế; Rủi ro do thiếu thông tin kinh tế và thiếu kinh nghiệm quản lý; Rủi ro tình hình chính trị bất ổn.
Rủi ro có thể phân tán và rủi ro không thể phân tán: Rủi ro có thể phân tán: là rủi ro có thể giảm bớt tổn thất thông qua những thoả hiệp đóng góp (như tài sản, tiền bạc…) và chia sẻ rủi ro. Rủi ro không thể phân tán: là rủi ro mà những thoả hiệp đóng góp về tiền bạc hay tài sản không có tác động gì đến việc giảm bớt tổn thất cho những người tham gia vào quỹ đóng góp chung. Rủi ro do tác động của các yếu tố môi trường kinh doanh: Rủi ro kinh tế: rủi ro kinh tế thường bị ảnh hưởng của môi trường chính trị, và ngược lại. Các rủi ro kinh tế có thể là: suy thoái kinh tế; lạm phát; mất khả năng thanh toán do tỷ lệ nợ ngắn hạn lớn hơn mức dự trữ ngoại tệ; dự trữ ngoại tệ nhỏ hơn kim ngạch nhập khẩu; nợ nước ngoài lớn hơn GDP.
2 Rủi ro chính trị: Các chính sách và đường lối phát triển kinh tế xã hội của một đất nước cũng là một nguồn rủi ro tiềm năng vô cùng quan trọng, vì nó có ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động của các tổ chức. Đây cũng là rủi ro vĩ mô, bao gồm: Chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách về thuế, hạn ngạch và các giới hạn thương mại khác; Chính sách tài chính, lưu thông tiền tệ, kiểm soát ngoại hối, lãi suất; Chính sách lao động và tuyển dụng lao động; Chính sách môi trường, sức khoẻ. Rủi ro pháp lý: Rủi ro pháp lý là rủi ro liên quan đến vấn đề pháp lý – kiện tụng, làm hao tổn sức người và tài sản như: Vi phạm hợp đồng kinh tế hoặc đầu tư; Tranh chấp hàng hoá, nhãn hiệu và thương hiệu; Bồi thường khiếu nại đối với khách hàng; Thay đổi luật pháp liên quan đến kinh doanh. Khái niệm về quản trị rủi ro và vai trò của quản trị rủi ro trong doanh nghiệp * Khái niệm Quản trị rủi ro là sự nhận dạng, đo lường và kiểm soát các loại rủi ro có thể đe doạ các loại tài sản và thu thập từ các dịch vụ chính hay từ các hoạt động sản xuất kinh doanh chính chủ một ngành kinh doanh hay của một doanh nghiệp sản xuất.
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công. Quản trị rủi ro là một quá trình bao gồm các hoạt động nhằm hạn chế loại bỏ các rủi ro hoặc khắc phục các hậu quả mà rủi ro gây ra đối với hoạt động kinh doanh từ đó tạo điều kiện cho việc sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp, giảm đến mức thấp nhất các thiệt hại về người và của cải của doanh nghiệp. Quản trị rủi ro liên quan đến tất cả rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực chất của quản trị rủi ro là phòng chống và khắc phục hậu quả.
Rủi ro không chỉ đơn thuần là các hoạt động thụ động và phòng ngừa mà còn là những hoạt động chủ động trong việc dự kiến những mất mát xảy ra và tìm cách giảm nhẹ hậu quả của chúng. Các nội dung chính của quản trị rủi ro: -Nhân dạng – phân tích – đo lường rủi ro -Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro 3 -Tài trợ rủi ro khi nó xuất hiện -Tìm cách biến rủi ro thành cơ hội thành công Việc thực hiện quản trị rủi ro, tùy thuộc vào các yếu tố: -Quy mô tổ chức lớn hay nhỏ? -Tiềm lực của tổ chức mạnh hay yếu? -Môi trường của tổ chức hoạt động đơn giản hay phức tạp? Có nhiều rủi ro hay ít rủi ro? -Nhận thức của lãnh đạo. Mục tiêu chính của quản trị rủi ro là né tránh các tổn thất từ rủi ro tai nạn. Mục tiêu thứ hai là tối thiểu hoá tổn thất có thể xuất hiện và tối thiểu hoá hậu quả của một tổn thất.
* Vai trò của quản trị rủi ro trong doanh nghiệp - Nhận dạng rủi ro, chủ động phòng ngừa. - Thực hiện được mục tiêu, sứ mạng của doanh nghiệp qua việc lựa chọn chiến lược ít rủi ro. - Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Các nội dung lý luận cơ bản về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp 1.
Các nguyên tắc quản trị rủi ro - Nguyên tắc 1: Quản trị rủi ro phải hướng vào mục tiêu Khi xác định được mục tiêu cần phải tính rủi ro và quan tâm đến công tác quản trị rủi ro - Nguyên tắc 2: Quản trị rủi ro gắn liền với trách nhiệm của nhà quản trị - Nguyên tắc 3: Quản trị rủi ro gắn liền với các hoạt động của tổ chức 1. Các nội dung quản trị rủi ro - Nhận dạng rủi ro Khái niệm: Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định một cách liên tục và có hệ thống các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ sở của nhận dạng rủi ro: Nguồn rủi ro (phát sinh mối hiểm họa và mối nguy hiểm): thường được tiếp cận là ở yếu tố của môi trường hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường chung: Môi trường chính trị luật pháp; Môi trường kinh tế; Môi trường KH KTCN; Môi trường văn hóa- xã hội; Môi trường tự nhiên.
4 Môi trường đặc thù: Khách hàng; Nhà cung cấp; Đối thủ cạnh tranh; Các cơ quan hữu quan. Môi trường bên trong: Nhận thức của con người nói chung và của nhà quản trị nói riêng. Nhóm đối tượng rủi ro (nguy cơ rủi ro): Nguy cơ rủi ro về tài sản là khả năng tổn thất về tài sản vật chất (tài sản hữu hình: Động sản và bất động sản; tài sản vô hình: thương hiệu, quyền tác giả, sự hỗ trợ về chính trị…), tài sản tài chính (các loại cổ phiếu và trái phiếu). Tài sản có thể bị hư hỏng, bị hủy hoại hay tàn phá mất mát hoặc giảm giá theo nhiều cách khác nhau.