đặt vấn đề nghiên cứu công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất trong các đơn vị sản xuất thép thuộc Hiệp hội Thép Việt Nam là cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Do đó tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất trong các doanh nghiệp sản xuất thép thuộc Hiệp hội Thép Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ. Tổng quan tình hình và những kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến luận án Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên góc độ khác nhau về BCTC hợp nhất cả ở trong và ngoài nước được khái quát như sau: 2. Các nghiên cứu ở nước ngoài - Nghiên cứu của tác giả Victor – Octavian Muller tại đại học Babes- Bolyal, Rumani, năm 2010 với đề tài “Developments and enquires in the field of consolidated financial statements”.
Đề tài này nghiên cứu khá toàn diện các vấn đề liên quan đến BCTC hợp nhất bao gồm các nội dung như: (i) các khái niệm về nhóm công ty, thực thể báo cáo; khái niệm về kiểm soát, lợi ích cổ đông không kiểm soát, lợi thế thương mại, sự cần thiết, mục đích của BCTC hợp nhất, các lý thuyết hợp nhất cơ bản; (ii) các quy định của CMKT quốc gia, Châu Âu và của quốc tế về BCTC hợp nhất; (iii) nội dung, phương pháp trình bày và phân tích về BCTC hợp nhất; (iv) chọn mẫu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 2 về BCTC hợp nhất. Ngoài ra trong năm 2013, tác giả Victor – Octavian Muller cũng đã nghiên cứu đề tài “The impact of IFRS adoption on the quality of cosolidated financial reporting”. Đề tài này nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc thực hiện IFRS đối với chất lượng của BCTC hợp nhất. Nghiên cứu này được thực hiện trên một số lượng lớn các công ty tại Châu Âu đã công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán (thị trường chứng khoán Paris, London, Frankfurt).
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên đề tài sử dụng các mô hình kinh tế lượng để kiểm định 2 giải thuyết: (i) BCTC hợp nhất trình bày theo IFRS có chất lượng cao hơn so với trình bày theo chuẩn mực của quốc gia; (ii) chất lượng BCTC hợp nhất sẽ cao hơn trong bối cảnh áp dụng IFRS. - Nghiên cứu của nhóm các tác giả Paolo Andrei, Pier Luigi Marchini, Veronica Tibiletti tại đại học Parma nước Ý, thực hiện năm 2010 với đề tài “The impact of the adoption of International Financial Accounting Standards (IFRS) on consolidated financial statements of Italian enterprises” nghiên cứu và phân tích về những tác động và ảnh hưởng của việc áp dụng các chuẩn BCTC quốc tế đối với việc lập và trình bày BCTC hợp nhất tại 191 công ty mẹ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và tài chính đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Milan. Trong nghiên cứu này các tác giả nghiên cứu về phạm vi hợp nhất, phương pháp xác định lợi thế thương mại, lợi ích của cổ đông không kiểm soát và phương pháp loại trừ giao dịch nội bộ tại các doanh nghiệp của nước Ý. - Nghiên cứu của nhóm các tác giả Andreea Cirstea, Alexandra Carmen Baltariu thực hiện năm 2014 với đề tài “Convergence of consolidated financial statements regulations: are we there yet?”, nghiên cứu sự hài hòa giữa IFRS và US GAAP về BCTC hợp nhất.
Các yếu tố được các tác giả lựa chọn để đánh giá sự hài hòa bao gồm: yêu cầu lập BCTC hợp nhất, quyền kiểm soát, phương pháp hợp nhất, chính sách kế toán, ngày lập và trình bày BCTC hợp nhất. - Luận án tiến sĩ “Consolidation accounting issues in the Australian public sector” của tác giả Victoria JaneWise, năm 2004 tại trường Đại học Victoria, 3 Melboure, Úc. Luận án này cũng nghiên cứu các vấn đề liên quan đến kế toán hợp nhất trong lĩnh vực kế toán công tại Úc. - Luận án tiến sĩ “Goodwill impairment:The case of Hong Kong” của tác giả Trần Mạnh Dũng thực hiện năm 2011, tại trường Đại học Macquarie, Sydney, Úc.
Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện về mặt lý luận các vấn đề liên quan đến lợi thế thương mại trên các khía cạnh: các quan điểm định nghĩa lợi thế thương mại, đo lường lợi thế thương mại, phương pháp ghi nhận lợi thế thương mại… Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về lợi thế thương mại, tác giả nghiên cứu thực tiễn xác định, kế toán lợi thế thương mại tại Hong Kong. - “Financial Accounting and Reporting” (2011) của nhóm tác giả Barry Elliott và Jamie Elliott có nội dung chủ yếu nghiên cứu các vấn đề về kế toán tài chính nâng cao, trong đó có nội dung quan trọng nghiên cứu về kế toán lập BCTC hợp nhất. Trong nội dung này, các tác giả nghiên cứu các vấn đề về kế toán hợp nhất tại thời điểm: (i) quyền kiểm soát được thiết lập (khái niệm về nhóm công ty, định nghĩa về quyền kiểm soát, các phương pháp kế toán lập BCTC hợp nhất, lợi thế thương mại, lợi ích của cồ đông không kiểm soát…); (ii) thời điểm sau khi quyền kiểm soát được thiết lập (thống nhất chính sách kế toán, kế toán các khoản đầu tư của công ty mẹ vào công ty con, phương pháp kế toán vào các công ty con, công ty liên kết…). - “Company Accounting” (2011) của nhóm tác giả Ken Leo, John Hoggett, John Sweeting.
Nội dung chủ yếu đề cập các vấn đề liên quan đến kế toán lập BCTC hợp nhất theo AASB đã sửa đổi cập nhật theo IFRS. Nghiên cứu cũng trình bày các vấn đề về hợp nhất kinh doanh, đánh giá suy giảm của tài sản, các phương pháp hợp nhất BCTC, trình tự các bước hợp nhất BCTC, lợi ích của cổ đông không kiểm soát, loại trừ các giao dịch nội bộ trong nhóm công ty, phương pháp hợp nhất đối với các công ty con sở hữu trực tiếp và gián tiếp, kế toán đối với các công ty liên kết. Các nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam Tại Việt Nam, vấn đề nghiên cứu về BCTC hợp nhất và công tác lập và trình bày BCTC hợp nhất đã được nhiều nhà khoa học quan tâm. Nội dung chủ yếu của một số công trình nghiên cứu gần đây có thể kể đến như: - Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Phú Giang (2007), “Hoàn thiện quy trình hợp nhất BCTC của các Tổng công ty theo mô hình công ty mẹ - công ty con”, Đại học thương mại.
Luận án nghiên cứu một số vấn đề về mô hình “công ty mẹ - công ty con”, lý luận về quy trình hợp nhất BCTC theo chuẩn mực quốc tế qua 4 giai đoạn (đồng hoá, kết hợp, loại trừ, phân bổ vốn chủ sở hữu). Luận án cũng nghiên cứu thực trạng quy trình hợp nhất BCTC tại một số đơn vị như: Tập đoàn điện lực Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy trình hợp nhất BCTC. Luận án tiến sĩ của tác giả Chúc Anh Tú (2009), "Vận dụng chuẩn mực hợp nhất BCTC để tổ chức hệ thống BCTC ở Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt nam", Học viện tài chính, đã hệ thống hoá cơ sở lý luận chung và phân tích về tổ chức hệ thống BCTC hợp nhất theo quy định CMKT quốc tế của CMKT Việt nam từ đó làm tiền đề cho những giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống BCTC hợp nhất ở Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam. - Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Anh Hiền (2011), “Xây dựng nội dung và quy trình lập BCTC hợp nhất của các Tập đoàn kinh tế đa ngành tại Việt Nam”, Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Luận án đã hệ thống hoá lý luận về BCTC hợp nhất bao gồm: các nguyên tắc, nội dung, phạm vi, trách nhiệm và phương pháp lập BCTC hợp nhất. Luận án cũng so sánh và đánh giá một số điểm khác biệt cơ bản giữa chuẩn mực BCTC quốc tế và CMKT Việt Nam. Trên cơ sở hệ thống lý thuyết nghiên cứu, tác giả đã nghiên cứu đánh giá thực trạng lập BCTC hợp nhất tại các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, đồng thời qua đề xuất nội dung và quy trình lập BCTC hợp nhất cho các Tập đoàn kinh tế đa ngành. 5 - Luận án Tiến sĩ của tác giả Đoàn Thị Dung (2012), “BCTC hợp nhất – Những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp cho Tập đoàn kinh tế Hoàng Hà”, Học viện Tài chính.
Trong luận án của mình tác giả đã hệ thống hoá được những vấn đề lý luận chung về BCTC hợp nhất bao gồm: hệ thống các phương pháp, quan điểm, phạm vi lập BCTC hợp nhất cũng như nội dung tổ chức hệ thống BCTC hợp nhất. Dựa trên cơ của những nghiên cứu này tác giả đi sâu đánh giá thực trạng hệ thống BCTC hợp nhất tại Tập đoàn kinh tế Hoàng Hà qua đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống BCTC hợp nhất trên phương diện cả khung pháp lý hiện hành và những nội dung cụ thể tại Tập đoàn kinh tế Hoàng Hà. - Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Hồng Vân (2014), “Sự hoà hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC hợp nhất - từ chuẩn mực đến thực tiễn”, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án đã hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về BCTC hợp nhất và sự hoà hợp kế toán trong việc lập, trình bày BCTC hợp nhất.
Luận án cũng đã xây dựng mô hình và kiểm định các giả thuyết đánh giá về sự hoà hợp giữa kế toán Việt Nam và quốc tế trong việc lập BCTC hợp nhất trên cơ sở khảo sát các doanh nghiệp đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Qua khảo sát thực tiễn và kết quả kiểm định, luận án đã đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tiến trình hoà hợp CMKT Việt Nam với CMKT quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC hợp nhất. Các vấn đề trình bày trong luận án khá toàn diện, phương pháp thực hiện khoa học trên cơ sở xây dựng mô hình và sử dụng phần mềm thống kê để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra trong đề tài. Ngoài ra trên các tạp chí chuyên ngành có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu vấn đề liên quan đến BCTC hợp nhất được đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu khoa học chuyên ngành hoặc kỷ yếu hội thảo.