phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu bao g m 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác lập, chấp hành dự toán và quyết toán chi thƣờng xuyên NSNN cấp t nh. Chƣơng 2: Thực trạng công tác lập, chấp hành dự toán và quyết toán chi thƣờng xuyên NSNN cấp t nh tại t nh Phú Yên. Chƣơng 3: Quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác lập, chấp hành dự toán và quyết toán chi thƣờng xuyên NSNN cấp t nh tại t nh Phú Yên. e 13 CHƢƠNG : CƠ SỞ LÝ LU N CÔNG T C L P CHẤP HÀNH D TO N VÀ QUY T TO N CHI THƢỜNG XUYÊN NSNN CẤP TỈNH 1.
Tổng quan về NSNN v NSNN cấp tỉnh 1. h i niệm NSNN NSNN trƣớc hết là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học: Xét từ góc độ này, NSNN đƣợc hiểu là bảng dự toán các khoản thu và chi tiền tệ của một quốc gia, đƣợc cơ quan có thẩm quyền của nhà nƣớc quyết định để thực hiện trong thời hạn nhất định, thƣờng là một năm.11] Định nghĩa này có hai yếu tố: Một l NSNN là bản dự toán thu và chi tiền tệ của quốc gia. Do đó, phải đƣợc Quốc hội, với tƣ cách là ngƣời đại diện cho toàn thể nhân dân trong quốc gia đó quyết định trƣớc khi Chính phủ đem ra thi hành trên thực tế. Hơn thế nữa, Quốc hội còn là ngƣời giám sát Chính phủ trong quá trình thi hành ngân sách và có quyền phê chuẩn bản quyết toán ngân sách hàng năm do Chính phủ đệ trình khi năm ngân sách đã kết thúc.11] Hai là, NSNN ch có giá trị thực hiện trong thời hạn một năm, tính từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 hàng năm.
Khoảng thời gian này đƣợc pháp luật quy định nhằm giới hạn rõ thời gian thực hiện bản dự toán NSNN và đƣợc gọi là “năm ngân sách” hay “tài khoá”, thực chất là niên độ ngân sách.12] Luật NSNN (2015) nêu rõ: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nh nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất đ nh do cơ quan Nh nước có thẩm quyền quyết đ nh để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nh nước”.8] e 14 Có thể rút ra những đ c tính cơ bản khi quan niệm về NSNN: Tính pháp lý: Đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thực hiện. Tính kinh tế: Phản ánh các khoản thu chi, nhằm mục tiêu bảo đảm về m t tài chính cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Tính niên độ: Thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, thƣờng trong thời hạn 1 năm, tính từ ngày 01 tháng 01 cho đến ngày 31 tháng 12 năm dƣơng lịch. Chứ n ng NSNN Trong sự vận động và phát triển của đời sống KT-XH, với những di n biến kinh tế, vai trò của nhà nƣớc đƣợc thay đổi, thì chức năng của NSNN cũng cần đƣợc nhìn nhận lại cho phù hợp với tình hình mới: Một là, cùng với các công cụ khác của Nhà nƣớc, NSNN là một công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, chống lạm phát và giảm thất nghiệp.
[4] Hai là, chức năng phân bổ ngu n lực trong xã hội để tạo lập và sử dụng các ngu n lực có hiệu quả, thông qua các biện pháp thu, chi và quản lý NSNN, nhà nƣớc thực hiện phân bổ ngu n lực vào những lĩnh vực địa bàn then chốt, có nhiều rủi ro, cần khuyến khích ho c hạn chế phát triển. Đ ng thời có thể thu hút, lôi kéo sự tham gia phân bổ ngu n lực của các thành phần kinh tế và khu vực tƣ nhân. [4] Ba là, chức năng phân phối lại thu nhập trong xã hội đƣợc thể hiện dƣới hình thức tham gia trực tiếp ho c gián tiếp nhằm hạn chế bớt sự phân hoá xã hội, sự bất bình đẳng về thu nhập đảm bảo sự công bằng hợp lý, làm cho ngu n thu nhập của xã hội đƣợc sử dụng một cách kịp thời hiệu quả. Thông qua công cụ thuế và công cụ chi tiêu nhà nƣớc sẽ thực hiện đƣợc các mục tiêu trên.
[4] Bốn là, chức năng điều ch nh kinh tế, khi nền kinh tế suy thoái ngƣời ta e 15 thƣờng khuyến cáo dùng chính sách tài khoá kích cầu bằng cách giảm thuế ho c tăng chi tiêu công, từ đó làm tăng khối lƣợng sản xuất xã hội. Khi nền kinh tế phát triển bình thƣờng, trong điều kiện mở cửa thì chính sách tài khoá kích thích sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền. Nhƣ vậy, trƣớc mắt chính sách tài khoá có thể kích thích tổng cầu có tác động đến tăng trƣởng kinh tế, nhƣng về lâu dài lại kìm hãm chính quá trình tăng trƣởng. Đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách tài chính nói chung và chính sách tài khoá nói riêng phải tính đến việc sử dụng công cụ NSNN một cách thích hợp trong quá trình điều ch nh nền kinh tế.
[4] Bốn chức năng nói trên có mối quan hệ rất gắn bó, phản ảnh đƣợc bản chất hoạt động của NSNN trong quá trình tạo lập, khai thác động viên, phân bổ, tổ chức huy động các ngu n vốn cũng nhƣ tham gia kiểm soát, điều ch nh kinh tế vĩ mô. V i tr NSNN NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động KT-XH, an ninh - quốc phòng và đối ngoại của đất nƣớc. Cần hiểu rằng, vai trò của NSNN luôn gắn liền với vai trò của nhà nƣớc theo từng giai đoạn nhất định. Đối với nền kinh tế thị trƣờng, NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền KT-XH.
[27] NSNN là công cụ điều ch nh vĩ mô nền KT-XH, định hƣớng phát triển sản xuất, điều tiết thị trƣờng, bình ổn giá cả, điều ch nh đời sống xã hội. Một l Huy động các nguồn tài chính của NSNN để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nh nước [27] Huy động các ngu n tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của NSNN, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nƣớc trong các lĩnh vực chính trị, KT-XH đòi hỏi phải có những ngu n tài chính nhất định. Những ngu n tài chính này đƣợc hình thành e 16 từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế. Đây là vai trò lịch sử của NSNN mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào NSNN đều phải thực hiện.
Hai l Quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế [27] Đ c điểm nổi bật của nền kinh tế thị trƣờng là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trƣờng là cung cầu, giá cả thƣờng xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trƣờng. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên ho c giảm đột biến gây ra biến động trên thị trƣờng, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phƣơng này sang địa phƣơng khác. Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối. Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng nhƣ ngƣời tiêu dùng nhà nƣớc phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trƣờng nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ NSNN dƣới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính.
Đ ng thời, trong quá trình điều tiết thị trƣờng NSNN còn tác động đến thị trƣờng tiền tệ và thị trƣờng vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính nhƣ: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nƣớc ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trƣờng vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát. l Về mặt kinh tế [27] Kích thích sự tăng trƣởng kinh tế theo sự định hƣớng phát triển KT-XH thông qua các công cụ thuế và thuế suất của nhà nƣớc sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tƣ của các doanh nghiệp ngoài ra nhà nƣớc còn dùng NSNN đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trƣờng thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. ốn l , Về mặt xã hội [27] e 17 Vai trò điều tiết thu nhập giữa các tần lớp dân cƣ trong xã hội. Trợ giúp trực tiếp dành cho những ngƣời có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đ c biệt, nhƣ chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dƣới hình thức trợ giá cho các m t hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đ ng bào bão lụt.
Năm l Về mặt th trường [27] Nhà nƣớc sẽ sử dụng NSNN nhƣ một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát. Nhà nƣớc ch điều tiết những m t hàng quan trọng những m t hàng mang tính chất chiến lƣợc. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều ch nh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trƣờng vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ.
Kiềm chế lạm phát: Cùng với ngân hàng trung ƣơng với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ. Các vai trò trên cho thấy tính chất quan trọng của NSNN, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế. NSNN ấp tỉnh trong hệ thống NSNN Hệ thống NSNN là tập hợp ngân sách các cấp chính quyền nhà nƣớc đƣợc quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ và công khai. [17] Tổ chức hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà trƣớc hết đó là chế độ xã hội của một nhà nƣớc và phân chia lãnh thổ hành chính.
Thông thƣờng ở các nƣớc hệ thống ngân sách đƣợc tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có sự phân chia NSNN thành ngân sách Trung ƣơng (NSTW) và ngân sách địa phƣơng (NSĐP). Chẳng hạn, hệ thống NSNN của Hoa Kỳ đƣợc tổ chức thành 3 cấp: Ngân sách liên bang, ngân sách bang và ngân sách cấp dƣới bang. Ngân sách của liên bang và các bang về cơ bản là độc lập với nhau.