Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra thuế đối với DN Ngoài quốc doanh Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các DN ngoài quốc doanh tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với DN ngoài quốc doanh tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luận về công tác kiểm tra thuế 1. Khái niệm, đặc điểm, yêu cầu 1.
Khái niệm Kiểm tra thuế: kiểm tra thuế là hoạt động của CQT trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để đánh giá, nhận xét và đưa ra biện pháp xử lý của CQT về việc thực hiện pháp luật thuế của NNT và công tác quản lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế Mức độ thấp hơn thanh tra: kiểm tra với thời gian ngắn, thường là 5 ngày khi tiến hành kiểm tra tại trụ sở CQT. Nội dung và phương pháp đơn giản: kiểm tra tờ khai thuế tháng, quý, năm theo phương pháp thủ công, ví dụ như so sánh, đối chiếu dữ liệu trên tờ khai thuế với dữ liệu trên hệ thống máy tính của CQT, kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ khai thuế, đối chiếu số liệu giữa các trang của từng tờ khai và giữa các tờ khai khác nhau… Phạm vi thường hẹp, thực hiện kiểm tra theo chuyên đề đã có kế hoạch lập ra sẵn; kiểm tra những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết mà không cần đòi hỏi các biện pháp nghiệp vụ để xác minh tài liệu, chứng cứ mà vẫn có những kết luận, đánh giá đúng đắn, chính xác. Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thì phải kiến nghị tổ chức thanh tra thuế. Phần kết thúc phải có nhận xét, đánh giá rút kinh nghiệm, phải có thưởng phạt nghiêm minh, những trường hợp vi phạm pháp luật thuế đến mức độ phải xử lý thì kiến nghị với cơ quan thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt, nếu nghiêm trọng thì kiến nghị tổ chức thanh tra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 Gần với khái niệm kiểm tra thuế là khái niệm thanh tra thuế. Thanh tra thuế: là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là hoạt động kiểm soát thực tế đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu điểm khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế. Thanh tra là một hoạt động kiểm tra nên giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm giống nhau và khác nhau: Điểm giống nhau cơ bản là: chúng đều phải xem xét tình hình thực tế của đối tượng nhằm phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng của tình hình, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục. Do vậy giữa thanh tra và kiểm tra có thể có cùng nội dụng hoặc phương pháp tiến hành trong những pham vi công việc nhất định.
Điểm khác nhau cơ bản như sau: Thứ nhất, chủ thể của thanh tra không đồng nhất với đối tượng thanh tra. Chủ thể của thanh tra là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước; đối tượng của thanh tra là đối tượng quản lý của Nhà nước; còn chủ thể của kiểm tra có thể đồng nhất, có thể không đồng nhất với đối tượng kiểm tra. Chẳng hạn, khi đơn vị tự kiểm tra thì chủ thể và khách thể kiểm tra là một. Thứ hai, tính chất của thanh tra là một hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước.
Kiểm tra là một hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực quản lý nhà nước, mà có thể là hoạt động quản lý đơn thuần. Thứ ba, mục đích của thanh tra là phát hiện những sai lệch của đối tượng kiểm tra để điều chỉnh và ngăn chặn những sai lệch ấy (sai lệch có thể là vi phạm pháp luật, có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu.) Thứ tư, hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng hơn, diễn ra ở tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội và được thực hiện một cách thường xuyên liên tục. Hoạt động thanh tra có phạm vi hẹp hơn, vì hoạt động thanh tra là kiểm tra ở Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 9 giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh. Hoạt động thanh tra phải giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý, giải quyết các khiếu tố đối với các vi phạm của đối tượng kiểm tra.
Thứ năm, về hình thức tổ chức: để tiến hành hoạt động thanh tra phải thành lập đoàn thanh tra, trong khi kiểm tra có thể phải thành lập đoàn kiểm tra hoặc có thể chỉ do một người tiến hành, không nhất thiết phải thành lập đoàn. Cũng có trường hợp cấp trên yêu cầu cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên. Công tác thanh tra và kiểm tra tuy có những điểm khác nhau, song đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý của Nhà nước. Việc phân biệt thanh tra và kiểm tra không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, tránh sự chồng chéo, giảm bớt phiền hà cho các đối tượng được thanh tra, kiểm tra.
Đặc điểm kiểm tra thuế Thứ nhất, kiểm tra thuế có phạm vi rộng: Đối tượng kiểm tra thuế là các tổ chức, cá nhân trong ngành Thuế, là NNT bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế. Thứ hai, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp, vì nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của NNT; để che giấu các hành vi trốn thuế nhằm đảm bảo lợi ích vật chất của mình, các đối tượng nộp thuế thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác kiểm tra của CQT. Thứ ba, kiểm tra thuế là công việc đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này. Để xác định đúng đắn nghĩa vụ thuế của đối tượng được kiểm tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất của hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra, tức là người cán bộ kiểm tra thuế còn phải có am hiểu sâu rộng về kinh tế, giỏi kế toán, sâu sắc trong tư duy lôgic.
Đồng thời, người cán bộ kiểm tra thuế cần phải có phẩm chất đạo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 10 đức tốt, bản lĩnh vững vàng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất. Yêu cầu kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là hoạt động có tính chất pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội. Do đó, công tác kiểm tra thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau đây: Thứ nhất, phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực, xử lý đúng người đúng tội, không bao che, quy chụp cho các đối tượng được kiểm tra. Đây là những yêu cầu hàng đầu của kiểm tra thuế vì chỉ khi đạt được yêu cầu này thì mới đạt được mục đích của công tác kiểm tra thuế, mới làm cho kiểm tra thuế trở thành cán cân công lý, mới có được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân.
Thứ hai, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến. Đảm bảo công khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công tác kiểm tra thuế vì thông qua đó phát huy được vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân trong công tác giám sát tuân thủ pháp luật. Yêu cầu kịp thời được đặt ra trong công tác kiểm tra thuế nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý nhà nước, ngăn chặn đúng lúc các hành vi tiêu cực, tránh những tổn thất nặng nề cho Nhà nước và cho nhân dân. Thứ ba, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế, ngăn ngừa loại trừ những hành vi trốn lậu thuế, đây là yêu cầu thiết yếu của công tác kiểm tra thuế.
Phải đạt được yêu cầu này thì công tác kiểm tra thuế mới làm tròn nhiệm vụ và chức năng của mình theo quy định. Nguyên tắc kiểm tra thuế Mục đích của kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý những sai phạm gây tổn thất đến lợi ích của nhà nước, của nhân dân, của các DN, góp phần hoàn thiện chính sách thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 11 Để đạt được mục đích trên, công tác kiểm tra thuế phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, Đó là các nguyên tắc sau: 1. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Pháp luật là thể hiện ý chỉ của Nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
Kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật cho nên hoạt động kiểm tra thuế phải tuân thủ pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra, nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế, ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hoá hoạt động kiểm tra thuế. Thực hiện đúng nguyên tắc này có ý nghĩa là các cơ quan và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp lụât, không tuân theo ý kiến của bất kỳ một cơ quan hoặc các nhân nào. Kết luận kiểm tra phải theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.