CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI BẢO HIỂM Y TẾ TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI CẤP HUYỆN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT TRONG QUẢN LÝ 1. Khái quát về hệ thống kiểm soát 1. Khái niệm về kiểm soát trong quản lý Kiểm soát là chức năng quan trọng của nhà quản lý nhằm thu thập thông tin về các quá trình, hiện tượng đang diễn ra trong một tổ chức.
Tính chất quan trọng của kiểm soát được thể hiện ở cả hai mặt. Một mặt, kiểm soát là công cụ quan trọng để nhà quản lý phát hiện ra những sai sót và có biện pháp điều chỉnh. Mặt khác, thông qua kiểm soát, các hoạt động sẽ được thực hiện tốt hơn và giảm bớt được sai sót có thể nảy sinh. Thường thường, người ta chỉ nhấn mạnh đến ý nghĩa thứ nhất (phát hiện sai sót) của kiểm soát vì cho rằng mọi hoạt động đều không tránh khỏi sai sót và kiểm soát là bước cuối cùng để hạn chế tình trạng này.
Điều đó đúng, nhưng chưa đủ, vì trong thực tế, kiểm soát có tác động rất mạnh đến các hoạt động. Một công việc, nếu không có kiểm soát sẽ chắc chắc nảy ra nhiều sai sót hơn nếu được theo dõi, giám sát thường xuyên. Điều đó khẳng định rằng kiểm soát không chỉ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoạt động của hệ thống hoặc là khâu sau cùng của chu trình quản lý (từ lập kế hoạch đến tổ chức lãnh đạo). Kiểm tra cũng không phải là hoạt động đan xen mà là một quá trình liên tục về thời gian và bao quát về không gian.
Nó là yếu tố thường trực của nhà quản lý ở mọi lúc, mọi nơi. Như vậy, chức năng quản lý của hoạt động kiểm soát là giám sát, đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm để đảm bảo rằng các mục tiêu của tổ chức và các kế hoạch vạch ra để đạt tới các mục tiêu này đã và đang được hoàn thành. Nhiều nhà quản lý, đặc biệt là ở cấp thấp thường cho rằng trách nhiệm đầu tiên đối với thực hiện kiểm soát thuộc về các nhà quản lý cấp cao, e 7 còn họ thường quan tâm nhiều đến việc thực thi kế hoạch. Đôi khi, do quyền lực của nhà quản lý cấp cao và trách nhiệm tổng hợp của họ, việc kiểm soát cấp cao nhất và các cấp phía trên được nhấn mạnh tới mức mà mọi người cho rằng ở các cấp dưới chỉ cần công việc kiểm soát ít mà thôi.
Mặc dầu quy mô của việc kiểm soát thay đổi theo cấp bậc của các nhà quản lý, nhưng tại mọi cấp, các nhà quản lý đều phải có trách nhiệm đối với việc thực thi các kế hoạch, và do đó kiểm soát là một chức năng quản lý cơ bản ở mọi cấp. Từ nhận định trên, có thể khái quát rằng: Kiểm soát là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo sự thực hiện theo kế hoạch. Như vậy, kiểm soát gắn liền với quá trình giám sát nhưng đồng thời cũng sẽ chỉ ra những biện pháp cần thiết để khắc phục những sai lệch của kế hoạch. Kiểm soát quản lý là quá trình trong đó chủ thể kiểm soát (các nhà quản lý) tác động lên các thành viên của đơn vị hay tổ chức để thực hiện các kế hoạch, mục tiêu của tổ chức đó.
Kiểm soát là một chức năng của quản lý, là một tiến trình gồm các hoạt động giám sát gắn liền với quản lý, phát sinh từ chính nhu cầu của quản lý, gắn liền với mọi hoạt động, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm soát. Kiểm soát được thiết lập trên cơ sở các biện pháp, chính sách thủ tục, tinh thần, giá trị, chức năng, thẩm quyền của những người liên quan. Trở thành phương tiện trong hoạt động của đơn vị giúp đơn vị nâng cao năng lực cải tiến hiệu quả hoạt động, hạn chế các sự cố và hoàn thành được các mục tiêu đã đề ra. Mục tiêu Mỗi một đơn vị đều có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó vạch ra kế hoạch, chiến lược mà đơn vị cần thực hiện, đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị hay là mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động hoặc từng e 8 bộ phận trong đơn vị cần thực hiện.
Có thể chia các mục tiêu kiểm soát của đơn vị cần thiết lập thành 3 nhóm như sau: - Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động của cơ quan tổ chức bao gồm việc sử dụng nguồn lực, lập dự toán của đơn vị, tổ chức. - Nhóm mục tiêu về báo cáo: Nhấn mạnh đến tính trung thực, kịp thời và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà đơn vị, tổ chức cung cấp. Mục tiêu này dựa trên những yêu cầu, kỳ vọng của đơn vị, tổ chức. - Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Nhấn mạnh đến việc tuân thủ các quy định của pháp luật.
Cho nên, mục tiêu này phụ thuộc chủ yếu vào cách thức tổ chức các hoạt động nằm trong sự kiểm soát của đơn vị, tổ chức. Phân loại kiểm soát Kiểm soát lường trước (kiểm soát trước khi thực hiện): Bằng cách tiên liệu các vấn đề có thể phát sinh để tìm cách ngăn ngừa trước. Tác dụng của kiểm soát lường trước sẽ giúp cho đơn vị chủ động đối phó với những bất trắc trong tương lai và chủ động tránh sai lầm ngay từ đầu. Đây là hình thức kiểm soát ít tốn kém nhất.
Kiểm soát hiện hành (kiểm soát trong khi thực hiện): Bằng cách giám sát trực tiếp ngay trong khi thực hiện, nắm bắt những lệch lạc và đưa ra những biện pháp tháo gỡ kịp thời, đảm bảo việc thực hiện kế hoạch. Kiểm soát sau khi thực hiện (kiểm soát phản hồi): Đây là loại kiểm soát được thực hiện sau khi hoạt động đã xảy ra. Mục đích của loại kiểm soát này là nhằm xác định xem kế hoạch có hoàn thành không? Nếu không thì phải tìm hiểu nguyên nhân? Rút ra những bài học kinh nghiệm cho những lần tiếp theo sau. Nhược điểm của loại kiểm soát này là trễ về thời gian.
Quy trình kiểm soát Để có một hệ thống kiểm soát hoàn hảo, trước tiên chúng ta phải đặt ra kế hoạch xây dựng. Việc xây dựng quy trình kiểm soát sẽ giúp đơn vị đi đúng hướng, không sao lãng trong quá trình thực hiện hệ thống. Trình tự quy trình kiểm soát được thể hiện theo Sơ đồ 1.1 Xác định mục tiêu kiểm soát (tổng hợp và chi tiết) Xây dựng tiêu chuẩn kiểm soát Phân tích nguyên nhân chênh Đo lường kết quả thực hiện lệch và điều chỉnh So sánh kết quả với tiêu chuẩn Sai Đánh giá lại kết quả, đưa ra hành động quản lý tiếp theo Sơ đồ 1.1: Trình tự của quy trình kiểm soát (Sách Kiểm soát quản trị - NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh) 1. Mối quan hệ giữa kiểm soát và quản lý Kiểm soát là một chức năng quan trọng không thể thiếu của quản lý và là một bộ phận chủ yếu trong quá trình quản lý nên kiểm soát có quan hệ mật thiết với quản lý.
e 10 Mối quan hệ giữa kiểm soát và quản lý tại sơ đồ 1.2 Lập kế hoạch Tổ chức Đánh giá kiểm Ra thực hiện soát thực hiện kế quyết hoạch định Điều hành hoạt động, kiểm soát Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa kiểm soát và quản lý (Sách Kiểm soát quản trị - NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh) 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHI BẢO HIỂM Y TẾ 1. Đặc điểm hoạt động chi bảo hiểm y tế 1. Khái niệm về BHYT Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này.
(Điều 2 Luật số: 25/2008/QH12) Bản chất của bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã hội, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, thể hiện sự tương thân tương ái, chia sẻ rủi ro e 11 giữa người khỏe mạnh với người ốm đau, giữa người trẻ với người già, giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp. Chính sách BHYT do nhà nước quy định, tổ chức thực hiện và bảo hộ, hình thành nên quỹ tài chính tập trung để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia BHYT. Bảo hiểm y tế là một loại hình dịch vụ công, hoạt động phi lợi nhuận lấy hiệu quả xã hội làm mục đích. BHYT hoạt động theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro của một người cho nhiều người cùng gánh chịu, tức là lấy số đông bù số ít, đồng thời là quá trình phân phối thu nhập giữa những người cùng tham gia BHYT theo hướng có lợi cho người gặp rủi ro do ốm đau bệnh tật.
Khái niệm về quỹ bảo hiểm y tế “Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế” [17, tr.1]; Theo Từ điển bách khoa Việt Nam. - Quỹ BHYT được phân bổ và sử dụng như sau: + 90% số tiền đóng bảo hiểm y tế dành cho KCB; + 10% số tiền đóng bảo hiểm y tế dành cho quỹ dự phòng, chi phí quản lý quỹ bảo hiểm y tế, trong đó dành tối thiểu 5% số tiền đóng bảo hiểm y tế cho quỹ dự phòng. Từ năm 2016 đến nay, mức chi phí quản lý bảo hiểm y tế bằng 5% dự toán thu tiền đóng BHYT, được trích từ khoản 10% số tiền đóng BHYT dành cho quỹ dự phòng và chi phí quản lý quỹ BHYT. Số tiền tạm thời nhàn rỗi của quỹ BHYT được sử dụng để đầu tư theo các hình thức quy định của Luật bảo hiểm xã hội.
Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hình thức và cơ cấu đầu tư của quỹ bảo hiểm y tế trên cơ sở đề nghị của Bảo hiểm e 12 xã hội Việt Nam.