CHƯƠNG 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN THANH TOÁN VÀ VỐN BẰNG TIỀN 1.Khái niệm,yêu cầu của doanh nghiệp về kế toán thanh toán và vốn bằng tiền: 1.Khái niệm,yêu cầu của doanh nghiệp về kế toán vốn bằng tiền : - Khái niệm : Vốn trong doanh nghiệp là hình thái giá trị của toàn bộ tư liệu sản xuất, được doanh nghiệp sử dụng trong sản xuất kinh doanh. Vốn bằng tiền là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp được hình thành trong quá trình bán hang và trong các quan hệ thanh toán. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền đến với các doanh nghiệp là loại vốn rất cần thiết không thể thiếu được, đặc biệt trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý và tự chủ về tài chính thì vốn bằng tiền càng có vị trí quan trọng.Thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao.Vốn bằng tiền là một loại vốn có tính lưu động nhanh chóng vào mọi khâu của quá trình sản xuất.Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp càng phải có kế hoạch hóa cao việc thu, chi tiền mặt, việc thanh toán qua ngân hàng, không những đáp ứng những nhu cầu trong sản xuất kinh doanh mà còn tiết kiệm được vốn lưu động, tăng thu nhập cho hoạt động tài chính, góp phần quay vòng nhanh của vốn lưu động. Vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm : -Tiền mặt tại quỹ công ty ( TK 111 ) -Các khoản tiền gửi ngân hang ( TK 112 ) Hiện nay công ty không sử dụng các loại tiền đang chuyển.
- Yêu cầu của doanh nghiệp về kế toán vốn bằng tiền : Công ty sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là đồng Việt Nam để ghi sổ kế toán. Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh công ty có sử dụng ngoại tệ thì đều được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hiện hành. Công ty không sử dụng vàng, bạc, đá quý. Khóa luận tốt nghiệp 1 SV: Nguyễn Thu Hương Trường Đại học Điện lực GVHD:Nguyễn Đức Quang Trong quá trình hạch toán hoạt động kinh doanh công ty chỉ dung đồng Việt Nam.
Vốn bằng tiền là loại vốn được xấc định có nhiều ưu điểm nhưng đây cũng là lĩnh vực mà kế toán thường mắc phải thiếu sót và để xảy ra tiêu cực cho nên cần phải tổ chức quản lý chặt chẽ và có hiệu quả loại vốn này.Chính vì vậy mà lãnh đạo công ty đã đề ra quy chế quy định công tác quản lý vốn bằng tiền cụ thể như sau : -Các khoản phải thu, chi tiền mặt qua quỹ của công ty đều phải được chứng minh bằng các chứng từ phê duyệt.Các chứng từ bao gồm : Phiếu thu, phiếu chi.Thủ quỹ có trách nhiệm lưu giữ một bản chính của các chứng từ nêu trên. -Sổ quỹ tiền mặt do thủ quỹ quản lý, phải cập nhật và tính số tồn quỹ hang ngày.Mọi khoản thu, chi tiền mặt đều phải được ghi trong sổ quỹ tiền mặt. -Phiếu chi tiền mặt phải được kế toán trưởng kiểm tra, ký xác nhận và được Giám đốc hoặc Phó giám đốc được ủy quyền ký duyệt. -Các chứng từ thanh toán đính kèm theo phiếu thu, phiếu chi phải hợp pháp, hợp lệ và được kế toán trưởng kiểm tra trước khi lập phiếu.
-Tiền gửi ngân hàng sẽ được ghi chép căn cứ qua Giấy báo có, Giấy báo nợ hoặc các bảng sao kê của ngân hang kèm theo các chứng từ gốc như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc chuyển khoản. -Khi nhận được các chứng từ do ngân hàng gửi đến, kế toán phải tiến hành kiểm tra đối chiếu với chứng từ gốc kèm theo. -Trường hợp có sự chênh lệch giữa số liệu kế toán của doanh nghiệp với sổ phụ ngân hàng thì vẫn phải ghi theo chứng từ của ngân hàng, số chênh lệch được theo dõi riêng ở tài khoản phải thu hoặc phải trả khác, đồng thời thông báo cho ngân hàng đối chiếu xác minh lại.Khái niệm,yêu cầu của doanh nghiệp đối với kế toán thanh toán : - Khái niệm : Kế toán thanh toán là các nghiệp vụ thanh toán của doanh nghiệp phát sinh trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tượng bên trong và bên ngoài nhằm giải quyết các quan hệ tài chính liên quan tới quá trình hình thành, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí Ngân sách Nhà nước tập trung và kinh phí khác. Khóa luận tốt nghiệp 2 SV: Nguyễn Thu Hương Trường Đại học Điện lực GVHD:Nguyễn Đức Quang - Yêu cầu của doanh nghiệp về kế toán thanh toán : Các nghiệp vụ thanh toán trong doanh nghiệp là những quan hệ thanh toán giữa đơn vị với Nhà nước, với các tổ chức, cá nhân bên ngoài về quan hệ mua, bán, dịch vụ, vật tư, sản phẩm, hàng hóa và các quan hệ thanh toán giữa đơn vị cấp trên, cấp dưới, với viên chức và các đối tượng khác trong đơn vị.
* Các nghiệp vụ thanh toán nếu được phân loại theo đối tượng thanh toán thì có: - Các khoản phải thu khách hàng. - Tạm ứng cho cán bộ, nhân viên của đơn vị. - Các khoản phải thanh toán cho người cung cấp. - Các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ phải nộp.
- Các khoản phải nộp Nhà nước về thuế và lệ phí. - Phải thanh toán cho viên chức và đối tượng khác. - Kinh phí cấp cho cấp dưới - Thanh toán nội bộ cấp trên và cấp dưới. -Xét theo tính chất công nợ phát sinh -Thanh toán các khoản phải thu (khách hàng mua, CNV, cho vay, thuế GTGT khấu trừ, các khoản phải thu khác).
-Thanh toán các khoản phải trả (phải trả người bán, nội bộ, thanh toán các khoản cho Nhà nước, phải nộp theo lương, phải nộp khác). -Đối với kế toán các khoản phải thu : + Kế toán phải theo dõi chi tiết cho từng đối tượng phải thu, từng khoản phải thu, từng đơn đặt hàng và từng lần thanh toán. +Mọi khoản nợ phải thu của đơn vị đều phải được kế toán ghi chi tiết theo từng đối tượng, từng nghiệp vụ thanh toán. Số nợ phải thu của đơn vị trên tài khoản tổng hợp phải bằng tổng số nợ phải thu trên tài khoản chi tiết của các con nợ.
+Các khoản nợ phải thu của đơn vị bằng vàng, bạc, đá quý phải được kế toán chi tiết cho từng con nợ theo cả hai chỉ tiêu số lượng và giá trị. +Trong kế toán chi tiết, kế toán phải tiến hành phân loại các khoản nợ để có biện pháp thu hồi nợ kịp thời. Khóa luận tốt nghiệp 3 SV: Nguyễn Thu Hương Trường Đại học Điện lực GVHD:Nguyễn Đức Quang +Tài khoản này còn phản ánh giá trị tài sản thiếu chưa xác định rõ nguyên nhân chờ quyết định xử lý và các khoản bồi thường vật chất do cá nhân, tập thể gây ra như mất mát, hư hỏng vật tư, hàng hoá đã có quyết định xử lý, bắt bồi thường vật chất. -Đối với kế toán các khoản phải trả : +Mọi khoản nợ phải trả của đơn vị đều phải được kế toán ghi chi tiết theo từng đối tượng, từng nghiệp vụ thanh toán.
+ Số nợ phải trả của đơn vị trên tài khoản tổng hợp phải bằng tổng số nợ phải trả trên tài khoản chi tiết của các chủ nợ. +Thanh toán kịp thời, đúng hạn cho các công nợ cho các chủ nợ, tránh gây ra tình trạng dây dưa kéo dài thời hạn trả nợ. -Đối với kế toán thanh toán tạm ứng : +Theo dõi, phản ánh số tiền tạm ứng khi tạm ứng tới lúc thanh toán từ các chứng từ gốc hợp lý, hợp pháp. +Ghi chép nghiệp vụ tạm ứng theo lần tạm ứng, đối tượng tạm ứng trên sổ kế toán chi tiết, tổng hợp.
+Thực hiện nghiêm ngặt công tác quản lý giám sát số tiền tạm ứng từ khi chi tới lúc thanh toán. +Báo cáo thường xuyên tình hình chi tiêu thanh toán tạm ứng trong đơn vị. Các quy định,chuẩn mực kế toán, văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về kế toán thanh toán và vốn bằng tiền : 1.Việt Nam Các quy định,chuẩn mực kế toán, văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về kế toán thanh toán và vốn bằng tiền được thể hiện qua quyết định 15/2006/QĐ-BTC và sau đó được sửa đổi bổ sung qua Thông tư 244/2009/TT-BTC,gần đây nhất vào ngày 22/12/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp thay thế cho Quyết định15/2006/QĐ-BTC, Thông tư 244/2009/TT-BTC. - Chuẩn mực kế toán VAS 10: Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán những ảnh hưởng do thay đổi tỷ giá hối đoái trong trường hợp doanh nghiệp có các giao dịch bằng ngoại tệ hoặc có các hoạt động ở nước ngoài.
Các giao dịch bằng ngoại tệ và các báo cáo tài chính của các hoạt động ở nước ngoài phải Khóa luận tốt nghiệp 4 SV: Nguyễn Thu Hương Trường Đại học Điện lực GVHD:Nguyễn Đức Quang được chuyển sang đơn vị tiền tệ kế toán của doanh nghiệp, bao gồm: Ghi nhận ban đầu và báo cáo tại ngày lập Bảng cân đối kế toán; Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái; Chuyển đổi báo cáo tài chính của các hoạt động ở nước ngoài làm cơ sở ghi sổ kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính. - Thông tư 179/2012/TT-BTC: Quy định về ghi nhận, đánh giá, xử lý các khoán chênh lệch tỷ giá hối đoái trong doanh nghiệp Quy định chính của thông tư: Xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập, chưa đi vào hoạt động: Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập, chưa đi vào hoạt động, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ để thực hiện đầu tư xây dựng và chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính được phản ánh luỹ kế, riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán. Khi tài sản cố định hoàn thành đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng thì chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng (sau khi bù trừ số chênh lệch tăng và chênh lệch giảm) được phân bổ dần vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài chính, thời gian phân bổ không quá 5 năm kể từ khi công trình đưa vào hoạt động.