phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Văn phòng UBND tỉnh Hậu Giang Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Văn phòng UBND tỉnh Hậu Giang 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nƣớc Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, cơ quan hành chính Nhà nƣớc (CQHCNN) là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nƣớc trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nƣớc cùng cấp, có phƣơng diện hoạt động chủ yếu là hoạt động quản lý nhà nƣớc, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định. Địa vị pháp lý của CQHCNN là tổng thể các quyền và pháp lý của những cơ quan này. Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nƣớc 2.
Những đặc điểm chung Cơ quan hành chính nhà nƣớc có quyền nhân danh Nhà nƣớc khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hƣớng tới lợi ích công. Biểu hiện của tính quyền lực nhà nƣớc đó là: Cơ quan hành chính nhà nƣớc có quyền ban hành các văn bản pháp luật nhƣ nghị định, quyết định, chỉ thị và có thể đƣợc áp dụng những biện pháp cƣỡng chế hành chính nhà nƣớc nhất định. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Nói cách khác, cơ quan hành chính nhà nƣớc có tính độc lập tƣơng đối về cơ cấu – tổ chức (có cơ cấu bộ máy, và quan hệ công tác bên trong của cơ quan đƣợc quy định trƣớc hết quy định trƣớc hết nhiệm vụ, chức năng, thể hiện vai trò độc lập)… Các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc thành lập và hoạt động dựa trên quy định của pháp luật, có chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc đƣợc giao với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nƣớc mà quan hệ đó đƣợc quy định bởi thẩm quyền nhất định do pháp luật quy định – đó là tổng thể những quyền, nghĩa vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực – pháp lý mà nhà nƣớc trao cho để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nƣớc.
9 Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt cơ quan nhà nƣớc với cơ quan không phải của nhà nƣớc, vì những cơ quan, tổ chức không phải của nhà nƣớc, tổ chức đó không có thẩm quyền đƣợc quy định trong pháp luật. Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nƣớc là đội ngũ cán bộ, công chức, đƣợc hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của pháp lệnh cán bộ, công chức. Những đặc điểm riêng Thứ nhất, cơ quan hành chính nhà nƣớc là cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc. Các cơ quan hành chính nhà nƣớc thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành (đó là những hoạt động đƣợc tiến hành trên cơ sở luật và để thi hành luật) nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc.
Nhƣ vậy, hoạt động chấp hành – điều hành hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc là phƣơng diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nƣớc. Các cơ quan nhà nƣớc khác cũng thực hiện những hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc nhƣng đó không phải là phƣơng diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động đƣợc thực hiện nhằm hƣớng tới hoàn thành chức năng cơ bản của cơ quan nhà nƣớc đó nhƣ: Chức năng lập pháp của Quốc hội, chức năng xét xử của tòa án nhân dân, chức năng kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân. Chỉ có cơ quan hành chính nhà nƣớc mới thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc trên tất cả các lĩnh vực nhƣ kinh tế, văn hóa, xã hội…Việc thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nƣớc là nhằm hoàn thành chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc. Thứ hai, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc thành lập từ Trung ƣơng đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, đƣợc tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nƣớc.
Thứ ba, các cơ quan hành chính nhà nƣớc đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nƣớc cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trƣớc cơ quan quyền lực nhà nƣớc. Thứ tƣ, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng 10 hợp. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành. Thứ năm, các cơ quan hành chính nhà nƣớc có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc.
Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nƣớc là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Hầu hết các cơ quan có chức năng quản lý hành chính đều có các đơn vị cơ sở trực thuộc. Phân loại cơ quan hành chính nhà nƣớc 3. Căn cứ vào địa giới hoạt động Có thể phân thành: Các cơ quan hành chính nhà nƣớc trung ƣơng gồm chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ quản lý nhà nƣớc về ngành hay lĩnh vực công tác.
Hoạt động quản lý của các cơ quan này bao trùm trong phạm vi toàn quốc. Các cơ quan hành chính nhà nƣớc địa phƣơng gồm uỷ ban nhân dân, các sở, phòng, ban thuộc uỷ ban nhân dân hoạt động quản lý trong phạm vi lãnh thổ địa phƣơng. Căn cứ theo cơ sở pháp lý của việc thành lập Các cơ quan hành chính bao gồm: Các cơ quan hành chính mà việc thành lập nó đƣợc hiến pháp quy định (cơ quan hiến định): + Chính phủ. + Uỷ ban nhân dân các địa phƣơng.
Các cơ quan hành chính Nhà nƣớc đƣợc thành lập trên cơ sở các đạo luật các văn bản dƣới luật: + Các bộ, cơ quan ngang bộ. + Các tổng cục, cục, vụ, các sở, ban thuộc các cơ quan hiến định. + Các đơn vị hành chính sự nghiệp cơ sở trong các lĩnh vực văn hoá y tế giáo dục quốc phòng trật tự trị an… 3. Căn cứ theo phạm vi thẩm quyền Các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc chia thành: Cơ quan có thẩm quyền chung: gồm chính phủ và uỷ ban nhân các cấp.
Những cơ quan này, theo quy định của hiến pháp, có thẩm quyền giải quyết mọi 11 vấn đề thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau trên toàn quốc hoặc trên từng địa phƣơng. Cơ quan có thẩm quyền riêng: gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, là những cơ quan quản lý theo ngành hoặc theo chức năng, trực tiếp quản lý một ngành, một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực trên phạm vi cả nƣớc. Căn cứ theo chế độ lãnh đạo Các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc chia thành: Các cơ quan đƣợc tổ chức và hoạt động theo chế độ lãnh đạo tập thể. Các cơ quan đƣợc tổ chức và hoạt động theo chế độ lãnh đạo một thủ trƣởng.
Tổ chức công tác kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp 4.1 Khái niệm về tổ chức công tác kế toán Theo Luật Kế toán (2015), "Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản lƣu giữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán". Theo Giáo trình Tổ chức công tác kế toán (2012), Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh thì “Tổ chức công tác kế toán là việc xác định những công việc, những nội dung mà kế toán phải thực hiện hay phải tham mƣu cho các bộ phận phòng ban khác thực hiện, nhằm hình thành một hệ thống kế toán đáp ứng đƣợc các yêu cầu của đơn vị”. Theo Giáo trình Tổ chức công tác kế toán (2011), Học viện Tài chính thì “Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của đơn vị”. Theo Giáo trình Nguyên lý kế toán, Học viện Tài chính (2014) thì “Tổ chức công tác kế toán cần đƣợc hiểu nhƣ một hệ thống các yếu tố cấu thành gồm: tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phƣơng pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán, tổ chức vận dụng các chế độ, thể lệ kế toán… mối liên hệ và sự tác động giữa các yếu tố đó với mục đích đảm bảo các điều kiện cho việc phát huy tối đa chức năng của hệ thống các yếu tố đó”.
Nhƣ vậy, tổ chức công tác kế toán đƣợc coi nhƣ là một hệ thống các yếu tố cấu thành, bao gồm tổ chức vận dụng các phƣơng pháp kế toán để thu nhận, xử lý, phân tích, kiểm tra và cung cấp các thông tin; tổ chức vận dụng chính sách, chế độ, thể lệ kinh tế tài chính, kế toán vào đơn vị; tổ chức các nhân sự để thực hiện công việc kế toán nhằm đảm bảo cho công tác kế toán phát huy hết vai 12 trò, nhiệm vụ của mình, giúp công tác quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị có hiệu quả.Do đó, tổ chức công tác kế toán thực chất là tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán trên cơ sở hiểu biết về kế toán, các qui định của pháp luật kế toán, pháp luật khác có liên quan, qui mô, đặc điểm và yêu cầu quản lý của đơn vị kế toán.2 Vai trò của tổ chức công tác kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp Theo Giáo trình Tổ chức công tác kế toán (2011), Học viện Tài chính thì: Trong quản lý, tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng.Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế- tài chính nên công tác kế toán ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quảvà chất lƣợng của công tác quản lý. Thêm vào đó, nó còn ảnh hƣởng đến việc đáp ứng các yêu cầu quản lý khác nhau của các đối tƣợng có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động cơ quan chức năng của nhà nƣớc.