Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về công tác kế toán TSCĐ trong các doanh nghiệp - Chương II: Thực trạng công tác kế toán TSCĐ tại Công ty TNHH Đầu tƣ và Thƣơng mại Tân Gia Phát - Chương III: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công ty TNHH Đầu tƣ và Thƣơng mại Tân Gia Phát 8 CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP 1. TSCĐ, vai trò và nhiệm vụ kế toán TSCĐ 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại TSCĐ 1. Khái niệm TSCĐ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam: Trƣớc hết, cần hiểu khái niệm tài sản nói chung, tài sản đƣợc đề cập theo VAS 01 thì: “Tài sản đƣợc biểu hiện dƣới hình thái vật chất nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, vật tƣ, hàng hóa hoặc không biểu hiện dƣới hình thái vật chất nhƣ bản quyền, bằng sáng chế nhƣng phải thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp”.
Ngoài ra chuẩn mực cũng đề cập “tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhƣng doanh nghiệp kiểm soát đƣợc và thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai. Nhƣ vậy, tài sản nói chung đƣợc hiểu là những nguồn lực thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, có thể thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai. Thứ hai, về khái niệm TSCĐ: Theo thông lệ quốc tế, TSCĐ là những tài sản có thời gian hữu ích ít nhất 1 năm đƣợc sử dụng cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp và không có ý định bán lại cho khách hàng. Tài sản cố định trong doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài và giá trị đƣợc chuyển dịch dần dần vào gia trị sản phẩm, dịch vụ.TS Nghiêm Văn Lợi, Giáo trình Kế toán tài chính, 2009, trang 93, NXB Tài Chính].
TSCĐ trong doanh nghiệp bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình, trong đó: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 03 “Tài sản cố định hữu hình”, Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. 9 Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 04 “Tài sản cố định vô hình”, Tài sản cố định vô hình: Là tài sản không có hình thái vật chất nhƣng xác định đƣợc giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tƣợng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. Khái niệm nguyên giá TSCĐ: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có đƣợc TSCĐ tính đến thời điểm đƣa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Phần lớn các khái niệm TSCĐ cho rằng TSCĐ là những tài sản có giá trị đủ lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và đƣợc đầu tƣ, sử dụng để mang lại lợi ích kinh tế trong tƣơng lai cho doanh nghiệp.
Mỗi quốc gia tùy vào trình độ phát triển kinh tế, trình độ quản lý và sức mua của đồng tiền ở những thời điểm khác nhau để quy định giá trị tối thiểu để ghi nhận TSCĐ. Nhƣ vậy, có thể hiểu TSCĐ là những tƣ liệu lao động chủ yếu và những tài sản khác có giá trị lớn, có thời gian sử dụng hữu ích ít nhất 1 năm, phục vụ sản xuất trong một thời kỳ dài, tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giá trị TSCĐ giảm dần và đƣợc chuyển vào giá trị sản phẩm dƣới hình thức khấu hao. Đặc điểm TSCĐ Đặc điểm chung của TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động nhƣ máy cán thô, máy đùn gạch. Trong quá trình đó, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không thay đổi.
Song giá trị của nó lại đƣợc chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm xuất ra. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đƣợc bù đắp mỗi khi sản phẩm đƣợc tiêu thụ. Phần giá trị này khi chuyển hoàn toàn thành tiền tệ thì nó đƣợc tích luỹ lại thành nguồn vốn khấu hao để tái đầu tƣ TSCĐ khi TSCĐ bị hƣ hỏng. Đặc điểm này có ảnh hƣởng rất lớn đến việc tổ chức hạch toán TSCĐ từ khâu tính giá đến khâu hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp TSCĐ.
10 Ngoài ra, TSCĐ còn là sản phẩm của lao động, tức là TSCĐ vừa có giá trị vừa có giá trị sử dụng. Nói cách khác, TSCĐ là một hàng hoá nhƣ mọi hàng hoá thông thƣờng khác. Thông qua mua bán, trao đổi TSCĐ có thể đƣợc chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể khác trên thị trƣờng tƣ liệu sản xuất. Phân loại TSCĐ * Mục đích của việc phân loại TSCĐ TSCĐ trong Doanh nghiệp rất đa dạng, có sự khác biệt về tính chất kỹ thuật, công dụng, thời gian sử dụng, ….
Do vậy phân loại TSCĐ theo những tiêu thức khác nhau là công việc hết sức cần thiết nhằm quản lý thông nhất TSCĐ trong Doanh nghiệp, phục vụ phân tích đánh giá tình hình trang bị, sử dụng TSCĐ cũng nhƣ để xác định các chỉ tiêu tổng hợp liên quan đến TSCĐ. Phân loại TSCĐ là một trong những căn cứ để tổ chức kế toán TSCĐ. Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện * TSCĐ đƣợc biểu hiện dƣới 2 hình thái: TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình) * TSCĐ hữu hình là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, thuộc loại này gồm: - Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản cố định của doanh nghiệp đƣợc hình thành sau quá trình thi công xây dựng nhƣ trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nƣớc, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đƣờng xá, cầu cống, đƣờng sắt, cầu tầu, cầu cảng. - Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ.
- Phƣơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phƣơng tiện vận tải gồm phƣơng tiện vận tải đƣờng sắt, đƣờng thuỷ, đƣờng bộ, đƣờng không, đƣờng ống và các thiết bị truyền dẫn nhƣ hệ thống thông tin, hệ thống điện, đƣờng ống nƣớc, băng tải. - Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ máy vi tính phục vụ quản lý, 11 thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lƣờng, kiểm tra chất lƣợng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt. - Vƣờn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm: là các vƣờn cây lâu năm nhƣ vƣờn cà phê, vƣờn chè, vƣờn cao su, vƣờn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh.; súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm nhƣ đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn bò. - TSCĐ hữu hình khác: là toàn bộ các tài sản cố định khác chƣa liệt kê vào năm loại trên nhƣ tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật.
* TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất, thể hiện một lƣợng giá trị đã đƣợc đầu tƣ, có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của Doanh nghiệp, thuộc loại này gồm: - Quyền sử dụng đất: là giá trị đất, mặt nƣớc, mặt biển hình thành do phải bỏ chí phí để mua, đền bù, san lấp, cải tạo nhằm mục đích có đƣợc mặt bằng sản xuất kinh doanh. - Quyền phát hành: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là toàn bộ các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra để có quyền phát hành. - Bản quyền, bằng sáng chế: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là các chi phí thực tế chi ra để có quyền tác giả, bằng sáng chế. - Nhãn hiệu hàng hoá: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là các chi phí thực tế liên quan trực tiếp đến việc mua nhãn hiệu hàng hoá.
- Phần mềm máy vi tính: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra để có phần mềm máy vi tính. - Giấy phép và giấy phép nhƣợng quyền: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình là các khoản chi ra để doanh nghiệp có đƣợc giấy phép và giấy nhƣợng quyền thực hiện công việc đó nhƣ: giấy phép khai thác, giấy phép sản xuất các loại sản phẩm mới,… - TSCĐ vô hình khác: phản ánh giá trị TSCĐ vô hình khác chƣa quy định phản ảnh ở các loại trên nhƣ: kiểu mẫu, công thức pha chế,… Phƣơng pháp phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện giúp cho ngƣời quản lý 12 có một cái nhìn tổng quát về cơ cấu đầu tƣ vào TSCĐ của Doanh nghiệp. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng các quyết định đầu tƣ hoặc điều chỉnh phƣơng hƣớng đầu tƣ cho phù hợp với thực tế. Mặt khác, nhà quản lý có thể dùng phƣơng pháp phân loại này để đề ra biện pháp quản lý tài sản, quản lý vốn, tính toán khấu hao chính xác, hợp lý.
Phân loại theo quyền sở hữu Căn cứ quyền sở hữu, TSCĐ của doanh nghiệp đƣợc chia thành hai loại: TSCĐ tự có và TSCĐ thuê ngoài. * TSCĐ tự có là TSCĐ doanh nghiệp mua sắm, xây dựng hoặc chế tạo bằng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn do ngân sách cấp, do đi vay của ngân hàng, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ đƣợc biếu tặng… đây là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và đƣợc phản ánh trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. * TSCĐ thuê ngoài là TSCĐ đi thuê để sử dụng theo một thời gian nhất định trong hợp đồng đã ký kết. Tuỳ theo điều khoản của hợp đồng thuê mà TSCĐ đƣợc chia ra: - TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ đi thuê nhƣng doanh nghiệp có quyền kiểm soát và sử dụng lâu dài theo các điều khoản của hợp đồng thuê, các TSCĐ đƣợc gọi là thuê tài chính nếu thoả mãn một trong các điều kiện sau đây: + Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê đƣợc chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc đƣợc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên.