Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác kế toán của hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội 6 Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác kế toán tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên. 7 CHƢƠNG 1 4 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. ĐẶC ĐIỂM NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Sự ra đời của Ngân hàng Chính sách xã hội Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng, nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Vai trò quan trọng của tổ chức tín dụng là đảm bảo huy động vốn đầy đủ và kịp thời, đó là hình thức huy động mà các doanh nghiệp hiện nay thường lựa chọn do nó có chi phí huy động thấp nhất. Hệ thống các tổ chức tín dụng bao gồm: + Ngân hàng + Tổ chức tín dụng phi Ngân hàng + Tổ chức tài chính vĩ mô + Quỹ tín dụng nhân dân + Chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng Chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Trong đó, Ngân hàng Chính sách xã hội (Viết tắt NHCSXH) là một loại hình Ngân hàng đặc biệt. Ngân hàng Chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng thuộc Chính phủ Việt Nam. NHCSXH được thành lập ngày 04/10/2002, theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ, với vốn điều lệ 5. NHCSXH thực hiện cho vay các đối tượng hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác theo quy định của Chính phủ 20.
Ngân hàng Chính sách xã hội có mô hình và mạng lưới hoạt động từ Trung 8 ương đến tỉnh, thành phố, quận, huyện theo địa giới hành chính, được tổ chức theo ba cấp: Hội sở chính ở Trung ương, Chi nhánh ở cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng giao dịch ở cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc Tỉnh. Ở mỗi cấp đều có bộ máy quản trị và bộ máy điều hành tác nghiệp. Hệ thống NHCSXH gồm Hội sở chính NHCSXH và 63 Chi nhánh NHCSXH tại các Tỉnh/Thành phố trên cả nước. Điều hành hoạt động của hệ thống là Tổng Giám đốc, điều hành hoạt động tại Chi nhánh tỉnh/thành phố là Giám đốc Chi nhánh và điều hành hoạt động tại Phòng giao dịch cấp huyện là Giám đốc Phòng giao dịch.
Bộ máy quản trị của Ngân hàng Chính sách xã hội bao gồm: Hội đồng quản trị tại Trung ương, 63 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp tỉnh, thành phố và hơn 660 Ban đại diện Hội đồng quản trị cấp quận, huyện. Với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là Chủ tịch Hội đồng quản trị. Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Mục tiêu của Ngân hàng Chính sách xã hội NHCSXH được thành lập với 5 mục tiêu đề ra là: + Tập trung nguồn vốn tín dụng chính sách của Nhà nước vào một đầu mối thống nhất, tạo bước đột phá trong công tác giảm nghèo, nâng cao nguồn nhân lực và đảm bảo an sinh xã hội.
+ Tăng cường hiệu quả đầu tư vốn tín dụng chính sách của Nhà nước thông qua việc nâng cao chất lượng tín dụng, rèn luyện ý thức tiết kiệm, tổ chức sản xuất kinh doanh để trả nợ đến hạn của người nghèo. + Tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng thương mại hoạt động theo đúng cơ chế thị trường. + Huy động được lực lượng toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giảm nghèo. + Góp phần hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn.
Chức năng của Ngân hàng Chính sách xã hội - Triển khai các chủ trương, chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với 9 người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn. - Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ về huy động vốn; cho vay và các dịch vụ Ngân hàng theo quy định tại điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội. - Nhận ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị- xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước. - Kiểm tra, giám sát việc vay vốn của các tổ chức, cá nhân; việc thực hiện hợp đồng ủy thác của các đơn vị nhận ủy thác.
Nhiệm vụ của Ngân hàng Chính sách xã hội Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện 2 nhiệm vụ chính là huy động vốn và cho vay. Trong đó: Huy động vốn: - Nhận tiền gửi có lãi và tự nguyện không lấy lãi của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ; nhận tiền gửi tiết kiệm của người nghèo; - Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ; vốn ủy thác của địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị- xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài và ngoài nước theo quy định của Tổng Giám đốc. - Vay vốn các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước khi Tổng Giám đốc cho phép. Cho vay: - Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt Nam đối với các đối tượng được quy định tại nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Ngoài ra: Thực hiện các dịch vụ ngân hàng theo chỉ đạo của Tổng Giám đốc Thực hiện hạch toán kế toán thống nhất trong toàn hệ thống. Chấp hành chế độ quản lý tài chính theo quy định. 10 Kiểm tra việc thực hiện hợp đồng vay vốn và trả nợ của các tổ chức, cá nhân vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội. Thực hiện kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
Kiểm tra giám sát các đơn vị ủy thác trên địa bàn theo quy định của Ngân hàng Chính sách xã hội. Phổ biến, hướng dẫn và triển khai thực hiện các cơ chế, quy chế nghiệp vụ và văn bản pháp luật của Nhà nước, ngành Ngân hàng và Ngân hàng Chính sách xã hội liên quan đến hoạt động của Chi nhánh và đơn vị nhận ủy thác. Đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng Chính sách xã hội NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc 0%, không tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nước. Đối tượng cho vay chủ yếu là hộ nghèo, cân nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác theo quy định của Chính phủ.
NHCSXH là Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội, có nhiều điểm khác biệt so với các Ngân hàng thương mại đó là: + Nguồn vốn dùng để cho vay của NHCSXH chủ yếu là từ Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra là nguồn vốn hình thành từ Nguồn vốn nhận ủy thác đầu từ của Ủy ban Nhân dân các cấp, từ nguồn huy động của các tổ chức kinh tế. + NHCSXH đã mở Chi nhánh tới 63 tỉnh, thành và mở các Phòng giao dịch ở tất cả các huyện, thị xã trên cả nước. + Khách hàng là những hộ nghèo, các đối tượng chính sách gặp khó khăn trong cuộc sống, không đủ điều kiện để vay vốn ở các Ngân hàng thương mại, các đối tượng sinh sống ở các xã đặc biệt khó khăn.
+ Lãi suất cho vay ưu đãi cho từng chương trình theo nghị định của Chính phủ. + Mức vay theo quy định của Hội đồng Quản trị và khả năng đáp ứng các nguồn vốn từng thời kỳ của NHCSXH. + Chủ yếu giao dịch với khách hàng với các giao dịch truyền thống như: Giải 11 ngân, thu nợ gốc, thu lãi, thu tiền gửi tiết kiệm. + Số lượng giao dịch lớn, tuy nhiên số lượng cán bộ Ngân hàng còn hạn chế nên NHCSXH đã có những sáng tạo trong hoạt động như: - NHCSXH thực hiện ủy nhiệm một số phần công việc tới các tổ chức chính trị xã hội.
- Xây dựng hệ thống tổ tiết kiệm vay vốn tại các thôn, xóm; ủy nhiệm các công việc như: thu lãi, tiền gửi tổ viên,… cho Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn. - Mở các điểm giao dịch tại Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn. ĐẶC ĐIỂM CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Khái niệm công tác kế toán ngân hàng Kế toán ngân hàng có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, là công cụ quản lý hữu hiệu cho việc đảm bảo an toàn tài sản cho xã hội.
Kế toán ngân hàng là việc thu thập, tính toán, ghi chép, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính về hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng dưới hình thức chủ yếu là giá trị để phản ánh, kiểm tra toàn bộ hoạt động kinh doanh của đơn vị ngân hàng, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý hoạt động tiền tệ ngân hàng ở tầm vi mô và vĩ mô, cung cấp thông tin cho các tổ chức kinh tế, cá nhân theo quy định của pháp luật.10 Công tác kế toán ngân hàng bao gồm công tác tổ chức bộ máy kế toán và công tác tổ chức hạch toán kế toán, từ hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán sử dụng đến hệ thống sổ sách, báo cáo kế toán và công tác kiểm tra kế toán. Đối tƣợng kế toán ngân hàng Đối tượng phản ánh trước hết của kế toán ngân hàng là vốn và sự vận động của vốn trong quá trìn hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và thanh toán của hệ thống ngân hàng.