CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ CÔNG CỤ DỤNG CỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TUẤN ĐẠT. Tổng quan về kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ: 1. Khái niệm và đặc điểm của nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ: Nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại công ty được gọi chung là vật tư của doanh nghiệp – là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, nó chuyển toàn bộ giá trị vào giá trị sản phẩm hoặc tiêu hao toàn bộ để tạo ra sản phẩm mới.
Nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ là đối tượng lao động được thể hiện dưới dạng vật hóa như trong may mặc có vải, kim, chỉ, kéo, máy móc, thiết bị… là tài sản dự trữ của doanh nghiệp nhằm phục vụ sản xuất liên tục. Dưới tác động của lao động, chúng bị tiêu hao một phần hoặc toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm.TS Nguyễn Văn Công (2007), Kế toán doanh nghiệp lý thuyết – bài mẫu và bài giải, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, trang 71) Đặc điểm của nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ: - NVL và CCDC là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp, là một trong các yếu tố tham gia hình thành nên chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí NVL và CCDC là một bộ phận của giá thành sản phẩm. - NVL và CCDC là một loại hàng tồn kho được dự trữ để đáp ứng cho nhu cầu của quá trình sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp. NVL và CCDC là một thành phần thuộc về vốn lưu động.
Giá trị nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong kho cuối niên độ không chỉ là giá trị được thể hiện trên báo cáo TC mà còn là chỉ tiêu để đánh giá 5 khả năng hoạt động của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu “Vòng quay vốn lưu động”. Nếu quá trình thu mua, dự trữ, xuất dùng và sử dụng NVL, CCDC được phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả sẽ làm tăng nhanh vòng quay của vốn. Phân loại nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ: Để kế toán dễ dàng xử lý số liệu, hạch toán và báo cáo tài chính, người ta thường tách phần TSCĐ trong đó có máy móc thiết bị thành một phần riêng và vật tư, từ đó được phân làm 2 nhóm chính là nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ. - Nguyên vật liệu hay còn gọi là vật tư tiêu hao, tức là những loại vật tư được sử dụng theo thời gian có xu hướng giảm đi cho đến khi hết, bao gồm: Nguyên liệu, vật liệu chính: Là đối tượng lao động cấu thành trực tiếp sản phẩm hay cấu tạo nên bộ phận chính của sản phẩm (ví dụ: các loại vải, chỉ may,… dùng trong các công ty may mặc).
Chi phí mua và sử dụng nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất sản phẩm hình thành nên chi phí NVL trực tiếp. Nguyên vật liệu phụ: Là đối tượng lao động chỉ có tác dụng hỗ trợ hoạt động sản xuất đi kèm với NVL chính làm tăng chất lượng sản phẩm. Nhiên liệu: Cũng là vật liệu nhưng được sử dụng để vận hành các thiết bị công nghệ sản xuất ra sản phẩm. Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết trong máy móc thiết bị sản xuất hay các phương tiện vận tải dùng để thay thế, sửa chữa khi thiết bị tương tự được lắp ghép trong máy móc bị hư hại không thể khắc phục để tiếp tục hoạt động cần phải thay mới.
Các loại vật liệu và thiết bị cơ bản khác. Vật liệu khác: Là các loại vật liệu còn lại được xem xét gồm phế liệu thu hồi từ thanh lý TSCĐ hoặc từ sản xuất kinh doanh. Phế liệu: Là những vật liệu tận dụng được sau quá trình sản xuất được dùng để thanh lý, bán ra ngoài. 6 - Công cụ dụng cụ hay còn gọi là vật tư luân chuyển không bị tiêu hao mà chỉ bị hao mòn giảm tính năng sử dụng theo thời gian.
Thời gian sử dụng ngắn hoặc thấp tùy thuộc vào số lần sử dụng và điều kiện bảo quản. Giá trị sử dụng và thời gian sử dụng của CCDC không đủ điều kiện để xét vào loại tài sản cố định. CCDC được chia thành 2 loại: Công cụ dụng cụ được phân bổ 1 lần. Công cụ dụng cụ được phân bổ nhiều lần.
Tính giá nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ: Hàng ngày, kế toán ghi chép sự biến động của NVL và CCDC theo giá vốn thực tế. Giá vốn thực tế của NVL và CCDC là các khoản cần thiết để cấu thành trị giá của vật tư được đưa vào nơi sẵn sàng cho sử dụng hay bán. Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, tính giá NVL và CCDC có thể chia thành 2 trường hợp: - Tính giá NVL và CCDC nhập kho - Tính giá NVL và CCDC xuất kho 1. Tính giá nhập kho nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ: Trường hợp NVL và CCDC mua ngoài: Về nguyên tắc giá nhập kho của NVL và CCDC mua ngoài được xác định theo công thức: Giá nhập kho = Giá mua thực tế + Chi phí thu mua Trong đó: Giá mua Giá mua theo Các khoản thuế GTGT GGHB và = + - thực tế hóa đơn (Thuế nhập khẩu) CKTM 7 - Giá mua theo hóa đơn là giá chưa bao gồm thuế GTGT (đối với DN tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ) hoặc giá mua đã bao gồm thuế (đối với DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp).
- Giảm giá hàng mua phát sinh khi hàng mua không đủ chất lượng hoặc sai qui cách, phẩm chất nên người bán phải trả trừ một khoản tiền cho đơn vị. - Chiết khấu thương mại phát sinh khi đơn vị mua hàng với số lượng lớn hoặc là khách hàng thường xuyên của nhà cung cấp. Chi phí thu mua: bao gồm chi phí vận chuyển, chi phí bốc dỡ, chi phí kho hàng bến bãi, chi phí bảo hiểm NVL, CCDC trong thời gian chuyển từ nhà cung cấp đến khi nhập kho tại đơn vị, chi phí cho bộ phận thu mua, hao hụt trong định mức… Trường hợp được đơn vị cấp trên cấp: Giá thực tế nhập kho là giá ghi sổ của đơn vị cấp trên và chi phí vận chuyển, bốc dỡ liên quan. Trường hợp nhận góp vốn liên doanh bằng NVL và CCDC: Giá thực tế nhập kho là giá do hội đồng định giá xác định.
Trường hợp thuê gia công chế biến: Giá mua thực tế VT xuất CP chế biến hoặc CP thuê gia Giá nhập = chế biến hoặc thuê gia + công chế biến (bao gồm CP kho công chế biến vận chuyển, bốc dỡ) Việc tính đúng, chính xác giá thực tế của NVL và CCDC nhập kho là việc hết sức quan trọng trong việc tổ chức hạch toán của kế toán NVL và CCDC. Công việc này còn ảnh hưởng đến việc tính giá NVL, CCDC xuất kho cũng như phản ánh chi phí NVL, CCDC trong việc tính giá thành thực tế của sản phẩm. Tính giá xuất kho nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ: Để xác định giá thực tế (giá gốc) ghi sổ của nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm, hàng hóa xuất kho trong kỳ, kế toán có thể sử dụng một trong 8 các phương pháp sau đây, việc áp dụng phương pháp nào thì phải nhất quán trong cả niên độ kế toán. Phương pháp tính giá xuất kho thực tế đích danh: Đối với phương pháp tính giá xuất kho thực tế đích danh thì NVL, CCDC, sản phẩm khi xuất bán hoặc xuất sử dụng, giá trị xuất kho sẽ được lấy theo giá nhập của lô tương ứng (xuất lô nào thì lấy giá nhập của lô đó).
Đây là phương pháp chính xác tuyệt đối, tuân thủ theo nguyên tắc doanh thu phù hợp với chi phí của doanh nghiệp. Phương pháp này thường sử dụng trong doanh nghiệp có ít loại nguyên liệu, vật tư, mã hàng hóa, sản phẩm hoặc có những loại NVL và CCDC ổn định, có tính tách biệt và dễ dàng nhận diện. Phương pháp bình quân gia quyền: Đối với phương pháp này, kế toán phải tính đơn giá bình quân cho mỗi lần nhập hoặc ở thời điểm cuối kì, sau đó lấy số lượng xuất kho nhân với đơn giá bình quân đã tính, cụ thể: Giá thực tế từng Số lượng từng Giá đơn vị = * loại xuất kho loại xuất kho bình quân Trong đó: Giá đơn vị bình quân có thể tính theo 2 cách: Tính theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ: Theo phương pháp này, cuối kỳ kế toán mới bắt đầu tính giá vốn của những loại NVL và CCDC đã xuất kho. Tùy theo kỳ kế toán mà công ty áp dụng, kế toán viên tiến hành tính giá đơn vị bình quân theo công thức: á ℎự ế ừ ạ Đ à á đơ ị ì ℎ â ả ỳ ự ữ= ượ ℎự ế ừ ạ Đ à Công việc tính toán của kế toán theo phương pháp này được dồn vào cuối tháng để giải quyết một lần, vì vậy tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao, dễ gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán.
Hơn nữa phương pháp này chưa đáp 9 ứng được tính kịp thời của thông tin kế toán ngay tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ ảnh hưởng đến tiến độ của các phần hành khác. Phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập: Đối với phương pháp này, sau mỗi lần nhập kế toán phải xác định đơn giá bình quân của từng loại NVL và CCDC. Căn cứ vào đơn giá bình quân và lượng xuất kho giữa 2 lần nhập kế tiếp, kế toán xác định giá thực tế của hàng xuất kho theo công thức: á đơ ị ì ℎ â ỗ ầ ℎậ á ℎự ế ừ ạ ồ ỗ ầ ℎậ = ượ ℎự ế ừ ạ ồ ỗ ầ ℎậ Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của cách trên, vừa chính xác, vừa cập nhật kịp thời thông tin kế toán. Nhưng lại có nhược điểm là tốn nhiều công sức của kế toán viên và tính toán nhiều lần.
Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Theo phương pháp này, số lượng NVL và CCDC nào được nhập trước thì được xuất dùng trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lô hàng xuất. Do đó NVL và CCDC tồn kho cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập kho cuối cùng. Phương pháp FIFO tuân theo logic để tránh lỗi thời.