CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VE CONG TÁC KE TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Các lý thuyết chung về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và vai trò của nguyên vật liệu Nguyên vật liệu là đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật hóa, vật liệu tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ giá trị nguyên vật liệu được chuyền hết một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Hay cũng có thé phát biểu nguyên vật liệu là hàng tồn kho thuộc tài sản ngắn hạn dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh (Nguyễn Văn Công - Kế toán doanh nghiệp - trang 117). Khái niệm nguyên vật liệu theo thông tư 200 như sau: Vật liệu tiếng Anh là Materials, là chất hoặc hợp chất được con người sử dụng để làm ra các sản phẩm khác. Hiểu đơn giản hơn vật liệu chính là đầu vào cho một quá trình chế tạo hoặc sản xuất, là những sản phẩm chưa hoàn thiện được dùng để sản xuất các sản pham khác.
Vật liệu phục vụ đời sống con người, đáp ứng nhu cầu từ nhà ở, dich vụ vui chơi, chăm sóc sức khỏe. Chính vi thé, vật liệu có vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết trong các lĩnh vực. Nếu thiếu vật liệu thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn, trục trặc thậm chí không thé sản xuất. Không phải tự nhiên ngày cảng có nhiều vật liệu khác nhau mà sự xuất hiện của mỗi loại vật liệu đều mở ra một thời kỳ phát triển mới.
Từ xưa, chúng ta có các vật liệu sẵn có trong tự nhiên như gỗ, tre, đá vôi, cát, gốm SỨ, giấy, nga voi. Đến hiện nay, hiện đại hơn có các loại vật liệu cao cấp hơn như thủy tỉnh, sắt, thép, nhôm, gạc, cao su. Vì vậy tăng cường công tác quản lý, công tác kế toán vật liệu đảm bảo việc sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vật liệu góp phan hạ thấp chi phí sản xuất giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng. Theo định nghĩa của các chuyên gia kinh tế, nguyên liệu là đối tượng lao động, cơ sở vật chat cau thành thực thé sản phẩm.
Nguyên liệu là yếu tố không thể thiếu khi tiến hành sản xuất, là đối tượng lao động do doanh nghiệp mua ngoài hoặc tự chế biến, dự trữ, dé phục vụ quá trình sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm. Tình hình thực tê kê hoạch sản xuât ảnh hưởng rât lớn của việc cung câp vật liệu. Hiệu đơn giản rang nguyên liệu là những vật thé còn thô sơ, chưa trải qua quá trình giải quyêt và xử lý, chê tác. Còn vật liệu lại mang hàm nghĩa sâu xa và bao quát hơn, ám chỉ vật chât được sử dụng đê tạo ra những sản phâm đơn cử có sự biên hóa về thực chất (tính chất hóa học, vật lý, hình dáng).
Đề quản lý một cách có hiệu quả nguyên vật liệu bao gồm: Số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị thì không thể không tổ chức tốt công tác kế toán vật liệu trong doanh nghiệp. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu Theo thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp thì kê toán nguyên vật liệu có nhiệm vụ như sau: Kế toán nguyên vật liệu có nhiệm vụ quan trọng trong việc đảm bảo quản lý tốt nguyên vật liệu cho doanh nghiệp. Kế toán nguyên vật liệu thường xuyên phải ghi chép, theo dõi tình hình biến động về xuất — nhập nguyên vật liệu, xem xét về hang tồn kho vật liệu cả về số lượng, chất lượng, giá trị hàng hóa. Kế toán nguyên vật liệu cần tính toán chính xác, phân bổ rõ ràng giá trị của nguyên vật liệu và sử dụng vào chi phí sản xuất theo đúng chế độ quy định.
Kế toán nguyên vật liệu cần vận dụng đúng các phương pháp hạch toán vật liệu hướng dẫn kiểm tra việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục nhập, xuất kho vật liệu. Thường xuyên đối chiếu số liệu trên số kế toán với thẻ kho của thủ kho dé xác định số tồn kho thực tế của từng loại nguyên vật liệu. Thêm vào đó, việc kiểm tra cũng cần phải thực hiện cần thận, kế toán nguyên vật liệu cần thực hiện các kế hoạch như thu mua, kiểm tra tình hình dữ liệu và tiêu hao nguyên vật liệu phát hiện và xử lý kịp thời vật liệu thừa, thiếu, ứ đọng, chất lượng suy giam, ngăn ngừa việc sử dung vật liệu, công cụ và dung cu lãng phí. Kế toán cần tham gia kiểm kê, đánh giá lại vật liệu theo chế độ của nhà nước.
Lập các báo cáo kế hoạch về vật liệu phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý, điều hành và phân tích tài chính. Đặc biệt trong công tác kế toán nguyên vật liệu phải lên kế hoạch ghi chép phản ánh, tổng hợp các thông tin về thu mua, lưu trữ, vận chuyền, đánh giá, phân loại tình hình nhập, xuất, quản lý nguyên vật liệu. Theo cách này, khi tính giá thành thực tế của nguyên vật liệu mua vào và nhập kho đáp ứng được yêu cầu quản lý của nhà nước và yêu cầu quản lý của Công ty, kiểm soát được tình hình thu mua nguyên vật liệu về mặt định lượng, giá cả, thời gian và dự trữ nguyên vật liệu đầy đủ và hợp lý.2 Phân loại và cách tính giá nguyên vật liệu 1.1 Phân loại Phân loại theo Điều 25. Tài khoản 152 - Nguyên liệu, vật liệu, Nguyên tắc 1 như sau: Nguyên liệu, vật liệu chính là nguyên liệu, vật liệu khi được đưa vao quá trình sản xuất sẽ hợp thành một đơn vi vật chất, là đơn vị chủ yếu của sản phẩm.
Do đó, khái niệm về nguyên vật liệu và nguyên vật liệu cơ bản có liên quan đến mọi công ty. Trong các công ty thương mại và dịch vụ không trình bày được khái niệm nguyên vật liệu cơ bản và nguyên vật liệu phụ. Nguyên liệu, vật liệu chính còn bao gồm cả nửa thành pham mua ngoài để tiếp tục quá trình chế tạo, sản xuất. Vật liệu phụ là khi tham gia vào quá trình sản xuất, nó không cấu thành chất của sản phẩm, nhưng có thé làm thay đôi màu sắc, mùi vị, hình thức hoặc chất lượng của sản phâm hoặc kết hợp với các thành phần chính đề tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất bình thường của sản phẩm.
Dap ứng các nhu cầu về sản phẩm hoặc kỹ thuật, bảo quản và đóng gói. Hữu ích cho quá trình lao động. Nhiên liệu là những thiết bị cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó tạo điều kiện cho sản phâm được sản xuất bình thường. Nhiên liệu có thé tồn tại ở trạng thái lỏng, rắn và khí.
Vật tư thay thé là những vật dùng dé thay thé, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản xuất. Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản là Vật liệu và thiết bị sử dụng cho công việc cơ bản của sản xuất. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản là chỉ các thiết bị cần lắp đặt, các thiết bị không cần lắp, công cụ, khí cụ thi công sử dụng trong công trình cơ bản. Vật liệu khác là các loại vật liệu không được sắp xếp vào các loại ké trên bao gồm phế liệu thu được trong quá trình sản xuất hay trong thanh lý tài san.
Căn cứ vào nguồn gốc của nguyên vật liệu dé chia nguyên vật liệu thành các loại sau: Nguyên vật liệu mua ngoài, Nguyên vật liệu tự sản xuất, Nguyên vật liệu nhận góp vốn kinh doanh. Căn cứ vào mục đích sử dụng chia nguyên vật liệu thành các loại sau: Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, Nguyên vật liệu dùng cho khâu bán hàng, Nguyên vật liệu dùng cho quản lý doanh nghiệp, Nguyên vật liệu dùng cho các mục đích khác. Cách tính giá và xác định giá trị nguyên vật liệu nhập kho Theo thông tư 200/2014/TT-BTC và thông tư 133/2016/TT-BTC thì: Khi xác định giá gốc của hàng tồn kho phải theo quy định của chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” chuẩn mực số 2. Nên khi tính giá nhập kho nguyên vật liệu phải được thực hiện theo nguyên tắc giá gốc theo quy định trong chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” chuẩn mực số 2.
Kế toán nhập xuất tồn nguyên vật liệu phải đảm bảo luôn phản ánh theo giá trị thực tế, khi nhập kho phải tính toán kỹ lưỡng, khi xuất kho cũng như phải xác định giá xuất kho theo đúng phương pháp quy định. Tuy nhiên không ít doanh nghiệp dé đơn giản hoá và giảm bớt các khối lượng ghi chép, tính toán hàng ngày, có thé sử dụng phương pháp giá hạch toán đề hạch toán tình hình nhập xuat vật liệu. Ngoài ra, giá trị nguyên vật liệu cũng phải tuân theo một số nguyên tắc, yêu cầu của kế toán và phải chịu sự chi phối của nhiều nhân tô khác nhau (Nguyễn Phúc Sinh - ĐH Kinh Té TP HCM- Tạp Chí Kiém Toán): 10 — Yêu cầu khách quan: thông tin kế toán hữu ích phải có độ tin cậy cao, các thông tin và các số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo. Giá gốc được hình thành trên cơ sở sự thương lượng với đầy đủ sự hiểu biết và thỏa mãn về lợi ích giữa người mua và người bán, việc ghi chép các giao dịch này hoàn toàn có thé kiểm tra được, nên giá gốc dam bảo được yêu cầu khách quan.
— Nguyên tắc thận trọng: Việc cân nhắc và phán đoán trong việc lập các ước tính kế toán trong điều kiện không chắc chắn, đòi hỏi sự nỗ lực của kế toán viên để đánh giá tình hình tài chính và sự thành công không phóng đại. Điều này làm tăng niềm tin rằng các lợi ích hiệu suất trong tương lai được dam bảo dựa trên dir liệu hiện tại. — Nguyên tắc nhất quán: Sử dụng giá gốc thường ít tốn kém hon so với các phương pháp khác dé đảm bảo khả năng so sánh của thông tin vì các nguyên tắc và phương pháp kế toán phải được áp dụng một cách nhất quán. — Nguyên tắc hoạt động liên tục: việc điều chỉnh giá tri tai sản lưu động theo giá thi trường là không phù hợp với mục đích hình thành tài sản do không có quan hệ mua - bán và giá thị trường không thé xác định một cách khách quan.
Tuy nhiên, nếu có băng chứng về vi phạm nguyên tắc hoạt động liên tục hoặc nếu công ty có kế hoạch bán tài sản, giá thi trường sẽ phù hợp hơn dé hoàn trả chi phí ban dau.