mở đầu của một chu trình quản lý tài chính, đây là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu, chi ngân sách hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Để quản lý và sử dụng tốt các nguồn thu, chủ động trong chi tiêu. Các đơn vị HCNN phải lập dự toán cho tất cả các khoản thu, chi của đơn vị phù hợp, thuận lợi cho kiểm tra, đối chiếu, tổng hợp dự toán NSNN và bảo đảm các yêu cầu: - Đúng nội dung, biểu mẫu, thời hạn, thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi theo mục lục NSNN và chi tiết theo hướng dẫn của cấp có thẩm quyền. e 10 - Các chỉ tiêu phải phản ánh được các hoạt động, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị trong kỳ dự toán đồng thời phù hợp với chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Bảo đảm cân đối giữa các khoản thu và chi, thể hiện được mối liên hệ với thực tế của kỳ trước cũng như nhiệm vụ của đơn vị trong kỳ tiếp theo. - Lập dự toán không được quá cao dẫn đến lãng phí nhưng không được quá thấp sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của đơn vị. Có hai phương pháp lập dự toán thường được sử dụng là phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ và phương pháp lập dự toán không dựa vào quá khứ. Mỗi phương pháp đều có những đặc điểm khác nhau, ưu điểm, nhược điểm và điều kiện, hoàn cảnh vận dụng khác nhau.
Dự toán ngân sách của các đơn vị HCNN phải gửi đến các cơ quan cấp trên để có căn cứ giao dự toán ngân sách cho các đơn vị. Chấp hành dự toán Trên cơ sở dự toán được giao, đơn vị HCNN tổ chức triển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi được giao đồng thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả. Đối với dự toán chi thường xuyên đơn vị HCNN được điều chỉnh nội dung chi cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, đồng thời gửi cơ quan cấp trên và KBNN nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để theo dõi, quản lý, thanh quyết toán. Cuối năm, căn cứ đề nghị của đơn vị, KBNN nơi giao dịch thực hiện chuyển số dư kinh phí chi thường xuyên, thu sự nghiệp sang năm sau tiếp tục sử dụng.
Đối với số dư chi thường xuyên sau khi thực hiện chuyển kinh phí, KBNN tổng hợp theo đơn vị dự toán cấp I gửi cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan tài chính căn cứ vào báo cáo của KBNN cùng cấp xem xét, làm thủ tục chuyển nguồn sang năm sau. e 11 Đối với các khoản chi không thường xuyên, việc điều chỉnh nội dung chi, nhóm mục chi; kinh phí cuối năm chưa sử dụng, hoặc sử dụng không hết thì thực hiện theo quy định (được chuyển sang năm sau hoặc huỷ bỏ dự toán). Quyết toán ngân sách Quyết toán là công việc cuối cùng của chu trình quản lý tài chính. Đây là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ và là cơ sở để phân tích, tổng kết đánh giá kết quả chấp hành dự toán năm.
Cuối quý, cuối năm các đơn vị HCNN phải tiến hành lập báo cáo kế toán, báo cáo quyết toán thu, chi tài chính về tình hình sử dụng nguồn tài chính để gửi đến các cơ quan chức năng theo quy định. BCQT của đơn vị HCNN phản ánh tổng hợp tình hình tài sản, thu, chi và kết quả sử dụng nguồn lực tài chính tại cơ quan, đơn vị nhằm cung cấp thông tin tài chính, giúp cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị. Công tác quyết toán thực hiện tốt sẽ cung cấp các thông tin cần thiết để đánh giá lại việc thực hiện kế hoạch tài chính năm. Kết quả quyết toán cho phép tổ chức kiểm điểm, đánh giá lại hoạt động của đơn vị, từ đó có những điều chỉnh kịp thời theo xu hướng thích hợp.
TỔNG QUAN VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA 1. Sơ lược về Dự trữ quốc gia Dự trữ quốc gia là nguồn lực tài sản công gồm vật tư, thiết bị, hàng hóa do Nhà nước tạo lập (hình thành) và được quản lý tập trung, thống nhất theo sự điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để sử dụng cho mục tiêu chiến lược, chủ động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh. Nhà nước hình thành, sử dụng DTQG nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu e 12 đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh [20]. Nhà nước có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển DTQG phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ; xây dựng DTQG đủ mạnh, cơ cấu hợp lý, bảo đảm thực hiện mục tiêu DTQG, phù hợp với khả năng cân đối của NSNN; có chính sách đầu tư nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ thông tin để hiện đại hóa hoạt động DTQG; có chính sách huy động nguồn lực, khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động DTQG [20].
Danh mục chi tiết hàng DTQG do các Bộ, ngành quản lý được thể hiện tại Phụ lục 1. Tổ chức DTQG phải đảm bảo tập trung, thống nhất theo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Chính phủ phân công bộ, ngành quản lý hàng DTQG theo quy định của pháp luật. Hệ thống tổ chức DTQG được bố trí ở trung ương và các khu vực, địa bàn chiến lược trong cả nước để kịp thời đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của DTQG.
Cơ quan quản lý DTQG chuyên trách thuộc Bộ Tài chính được tổ chức theo hệ thống dọc, gồm cơ quan ở trung ương và các đơn vị ở địa phương theo khu vực; các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và bộ phận làm công tác DTQG kiêm nhiệm tại bộ, ngành quản lý hàng DTQG [20]. Tổng cục Dự trữ Nhà nước là đơn vị DTNN tại trung ương, trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về DTQG và trực tiếp quản lý hàng DTQG theo quy định của pháp luật. Tại các địa phương, có 22 Cục Dự trữ Nhà nước khu vực trực thuộc Tổng Cục Dự trữ Nhà nước và các Chi cục Dự trữ nhà nước thuộc Cục Dự trữ Nhà nước khu vực đóng trên địa bàn của 64 tỉnh thành trên cả nước, trực tiếp quản lý hàng DTQG và quản lý hoạt động về DTQG trên địa bàn được phân công. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng cục Dự trữ Nhà nước (Nguồn: Tổng cục Dự trữ Nhà nước) e 14 1.
Đặc điểm hoạt động tài chính của các đơn vị Dự trữ Nhà nước Nguồn DTQG được hình thành từ nguồn NSNN và nguồn lực hợp pháp khác ngoài NSNN được đưa vào DTQG bao gồm các nguồn lực có được từ tự nguyện đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp công nghệ thông tin cho hoạt động quản lý và bảo quản hàng DTQG, trực tiếp bảo quản hàng DTQG; hàng hóa, vật tư được huy động từ các tổ chức, cá nhân trong tình huống đột xuất, cấp bách theo quy định của pháp luật. Ngân sách nhà nước chi cho DTQG thực hiện theo quy định của Luật NSNN và được bố trí trong dự toán NSNN hàng năm[20]. Ngân sách chi cho hoạt động quản lý DTQG bao gồm: Chi mua hàng DTQG; Chi cho hoạt động quản lý DTQG (chi cho hoạt động của bộ máy quản lý; chi nghiệp vụ xuất, nhập, mua, bán, bảo quản, bảo hiểm, bảo vệ hàng DTQG…); Chi đầu tư xây dựng cơ bản. Trong đó, chi mua hàng DTQG (mua tăng, mua bù) là khoản chi đặc thù, được pháp luật cho phép chuyển nguồn sang năm sau nếu chưa sử dụng hết để mua đủ số lượng hàng theo kế hoạch.
Ngân sách chi cho DTQG thực hiện theo quy định của Luật NSNN và được bố trí theo dự toán NSNN hàng năm. Luật NSNN năm 2015 đã tách riêng chi DTQG thành một nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ương (không gộp chung với chi đầu tư phát triển), nên quy trình lập, phân bổ, phê duyệt kế hoạch và dự toán NSNN cho DTQG phù hợp với đặc thù và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động DTQG. Chi phí nhập, xuất, bảo quản hàng DTQG được thực hiện theo chế độ khoán; chi phí nhập, xuất cấp hàng DTQG theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ được Bộ Tài chính cấp theo dự toán được phê duyệt. Bộ, ngành quản lý hàng DTQG căn cứ vào định mức kinh tế- kỹ thuật, hợp đồng bảo quản hàng DTQG, lập dự toán chi cho việc nhập, xuất, bảo quản hàng DTQG, báo cáo Bộ Tài chính phê duyệt trước khi thực hiện; trường hợp e 15 chưa được phê duyệt, Bộ Tài chính quyết định tạm ứng để các cơ quan, đơn vị DTQG triển khai thực hiện.
Bộ, ngành quản lý hàng DTQG, đơn vị DTNN và tổ chức, doanh nghệp bảo quản hàng DTQG phải tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý tài chính, ngân sách, kế toán, thống kê, kiểm toán và chế độ báo cáo về DTQG. CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC Hiện nay, các đơn vị Hành chính, sự nghiệp áp dụng chế độ kế toán theo quy định tại Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp. Các đơn vị DTNN (Tổng cục DTNN; Cục DTNN khu vực; Chi cục DTNN) là những đơn vị HCNN trực thuộc Bộ Tài chính, hoạt động tài chính có tính đặc thù riêng. Ngoài việc áp dụng chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp theo Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính (sau đây gọi tắt: Thông tư 107/201//TT-BTC) còn phải tuân thủ chế độ kế toán đặc thù được quy định tại Thông tư 108/2018/TT-BTC ngày 15/11/2018 của Bộ Tài chính về hướng dẫn kế toán dự trữ quốc gia (sau đây gọi tắt: Thông tư 108/2018/TT-BTC) hướng dẫn, bổ sung, áp dụng cho các đơn vị DTNN, các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác kế toán DTQG.