CHƯƠNG I1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CO! ‘AC DAO TAO NGUON NHAN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP. Khái quát về đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1. Các khái niệm ©_ Nhân lực Theo Trần Xuân Cầu (2019): “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động”. Nhân lực gồm có thể lực, trí lực và tâm lực. Thể lực là tỉnh trạng sức khoẻ của con người như chiều cao, cân nặng, sức bền. Thẻ lực phụ thuộc vào tuôi tác, giới tính, chế độ ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi và nhiều yếu tố khác.
Trí lực là sự hiểu biết, khả năng học hỏi, tư duy, vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng. Tâm lực chỉ sự năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, khả năng thích ứng và tỉnh thần trách nhiệm với cá nhân, tổ chức Nhân lực là tổng thể những người lao động (NLĐ) đáp ứng các nhu cầu nhất định về đặc thù công việc tương ứng của mỗi doanh nghiệp, tổ chức. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong doanh nghiệp, sử dụng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức đề phát triển doanh nghiệp. e Nguồn nhân lực Liên Hợp Quốc định nghĩa nguồn nhân lực (NNL) là “trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng dé phat trién".
Lién Hop Quốc xét đến cả những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người, không chỉ những năng lực thực tế. Theo David Begg (2008): “NNL Ia toàn bộ quá trình chuyên môn mả con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, NNL là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục 10 đích đem lại thu nhập trong tương lai". David Begg cho rằng kiến thức mà con người tích lãy được trong quá trình làm việc là điều quan trọng giúp họ tạo ra tài sản cho. cuộc sống tương lai.
Đây là các quan điểm tiếp cận về NNL ở góc độ vĩ mô, coi NNL là nguồn lực, động lực để phát triển. Theo các quan điềm nay, NNL bao gồm toàn bộ con người có thê phát triển bình thường. Xét trên góc độ tô chức, doanh nghiệp, theo GS. Bùi Văn Nhơn (2006): *NNL doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”.
Quan điểm này tiếp. cận NNL gồm những người trong độ tuổi lao động và có đủ khả năng lao động, gọi là lực lượng lao động Theo các tác giả Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2012, tr.8): *NNL của tổ chức bao gồm tắt cả những NLD làm việc trong một tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thê lực và trí lực”. Tổng thể con người và hoạt động của họ trong tổ chức, doanh nghiệp tạo nên sự tồn tại và phát triển bền vững cho tô chức, doanh nghiệp. Theo tác giả Trần Kim Dung (2019): *NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những.
mục tiêu nhất định”. Theo đó, NNL là nguồn lực khác biệt, mà con người có thể liên kết được để thực hiện các vai trò cá nhân theo mục tiêu của tô chức. Trong khi đó, các nguồn lực khác không thể tự kết nối hay hình thành các mối liên kết nếu không có sự tác động của yếu tố con người. Khi xem xét dưới các góc độ khác nhau, NNL có rất nhiều những khái niệm khác nhau, nhưng tựu chung lại, NNL được hiểu là nguồn cung cấp sức lao động bằng.
trí lực và thể lực cho xã hội. NNL trong doanh nghiệp được giới hạn ở những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, làm việc bằng trí lực và thể lực để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. NNL có thể phân loại theo nhiều khía cạnh. Theo hình thức hợp đồng lao động, NNL được chia thành lao động không xác định thời han, lao động xác định thời hạn và lao động thời vụ.
Theo cơ cấu chức năng, NNL được chia thành lao động làm công 11 tác quản lý và lao động sản xuất trực tiếp. Theo trình độ đào tạo, NNL có hai loại là NNL chưa qua đào tạo và NNL đã qua đào tạo. Theo tinh chất quan hệ lao động, NNL chia thành lao động tự do và lao động làm thuê. Theo năng lượng vận hành công cụ lao động, NNL chia thành lao động thủ công, lao động nửa cơ giới, lao động cơ giới, lao động hệ thống máy và thiết bị tự động hoá,.
&- Đảo tạo nguồn nhân lực Theo tir điền tiếng Việt: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tr thức, kỳ năng, kỹ xảo,. một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghỉ với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đảo tạo chuyên môn và đảo tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật - công nghệ và văn hoá đất nước.
Có nhiều hình thức đảo tạo: đào tạo cấp tốc, đảo tạo chính quy và không. chính quy" Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012, tr. 161): *Đào tạo là quá trình học tập làm cho NLĐ có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ". Theo Hoang Van Hai (2008): “Dao tao là quá trình cung cắp các kiến thức, hoàn thiện kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho NLĐ trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình thực hiện công việc của họ ở các thời điểm.
hiện tại và tương lai". Từ những khái niệm trên, có thể hiểu đào tạo NNL là hoạt động học tập, bổ sung kiến thức, kỹ năng giúp NLĐ đáp ứng yêu cầu công việc và làm việc hiệu quả hơn. Đào tạo NNL là một trong những giải pháp sử dụng tối đa hiệu quả NNL hiện có thông qua việc giúp cho NLĐ thực hiện được yêu cầu công việc một cách dễ dàng hơn. Đảo tạo NNL cũng giúp doanh nghiệp xây dựng đội ngũ nhân sự chất lượng cao, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
12 Đào tạo NNL được chia thành 4 loại chủ yếu là đảo tạo mới, đảo tạo lại, đảo tạo bổ sung và đào tạo nâng cao, cụ thể. Đào tạo mới là việc đào tạo cho những lao động chưa qua đảo tạo, giúp NLD có trình độ chuyên môn phủ hợp với yêu cầu công việc. Trong một số trường hợp các công ty phải đảo tạo mới do đặc thù ngành nghề không tuyển dụng được NLĐ có sẵn trình độ chuyên môn phủ hợp, hoặc đến từ các nguyên nhân khác. Đào tạo lại là việc đào tạo cho NLĐ đã được đào tạo trước đó nhưng trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu của vị trí công việc đang đảm nhận.
Doanh nghiệp tiến hành đảo tạo lại giúp lao động xử lý được công việc do thay đổi bộ máy nhân sự dẫn đến lao động phải đảm đương các công việc khác, do thay đôi dây chuyền sản xuất hoặc do các nguyên nhân khác Đào tạo bồ sung là việc đào tạo cho NLĐ các kiến thức, kỹ năng cần thiết hoàn thiện sự thiếu hụt về trình độ giúp NLĐ hoàn thành tốt công việc. Doanh nghiệp tiến hành đảo tạo bỗ sung khi yêu cầu công việc tăng lên hoặc do những thay đồi từ thị trường dẫn đến sự thay đổi trong cách thức triển khai công việc. Đào tạo nâng cao là việc đào tạo NLĐ giúp họ nâng cao trình độ kiến thức, kỹ nang, dé lao động có thê hoàn thành yêu cầu công việc một cách hiệu quả và năng. Doanh nghiệp thường triên khai đào tạo nâng cao cho các cán bộ nguồn hay.
những vị trí quản lý để nâng cao nghiệp vụ. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực Hiệu quả sử dụng NNL được tối ưu hóa là mục tiêu của các doanh nghiệp. NNL là tài sản của doanh nghiệp và công tác đào tạo NNL sẽ giúp cho tài sản này ngày cảng lớn mạnh. Vì vậy, dao tao NNL la mét phn quan trọng trong quản trị NNL của doanh nghiệp, đóng vai trò to lớn đối với NLĐ, doanh nghiệp và cả xã hội Đối với NLĐ, đào tạo NNL giúp họ bồ sung các kỹ năng, kiến thức mới, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật theo xu hướng thị trường và đóng góp vào sự phát triển về năng lực cho lao động.
Công tác đảo tạo NNL giúp tạo ra sự chuyên nghiệp và gắn bó giữa NLĐ với doanh nghiệp thông qua việc cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới cho lao động để ứng dụng những cập nhật kỹ thuật, công nghệ phục vụ cho công việc. 13 Ngoài ra, việc được đào tạo cũng giúp NLĐ thỏa mãn nguyện vọng và nhu cầu phát triển bản thân và giúp họ có động lực làm việc. NLĐ khi được trang bị các kiến thức chuyên môn, kỹ năng cần thiết sẽ có thê thực hiện công việc hiệu quả với nhiều thành tích và tăng cơ hội thăng tiến hơn. Từ đó, NLĐ có thể phát huy được tính sáng tạo và những tư duy, góc nhìn mới mới trong công việc.
Đối với doanh nghiệp, đào tạo NNL là nội dung cơ bản để doanh nghiệp có thê triển khai được các mục tiêu chiến lược. NNL chất lượng cao là lợi thế của doanh nghiệp trong việc cạnh tranh, giúp doanh nghiệp có khả năng phát triển bền vững, thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Đối với nhân sự mới, việc đảo tạo sẽ giúp họ sớm hòa nhập, thích nghỉ với môi trường làm việc, văn hóa của doanh nghiệp. Đối với đội ngũ quản lý, đào tạo giúp họ cập nhật các phương pháp quản lý phù hợp với sự đổi mới không ngừng về công nghệ, quy trình cũng như môi trường kinh doanh.