Tổng quan nghiên cứu

Thị trường dược phẩm Việt Nam sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chứng kiến tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhưng cũng đặt ra thách thức sống còn về năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa. Công ty Cổ phần Dược phẩm Euvipharm là một trong những đơn vị tiên phong khi đầu tư 17 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất hiện đại trên diện tích hơn 4.600 m² tại Long An với hai phân xưởng Non-Betalactam và Betalactam đạt chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, hoạt động vận hành của doanh nghiệp đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi chu kỳ kinh doanh kéo dài tới 175,8 ngày, lượng hàng tồn kho bình quân năm 2013 lên tới 41,1 tỷ đồng và tổng chi phí chuỗi cung ứng chạm mốc 59,3 tỷ đồng trên tổng doanh thu 151,4 tỷ đồng (khoảng 6,95 triệu USD).

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự thiếu liên kết giữa các mắt xích cung ứng, từ khâu dự báo nhu cầu thị trường, mua sắm nguyên liệu đến phân phối thành phẩm cho 113 mặt hàng. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích toàn diện thực trạng 7 nội dung hoạt động và 4 tiêu chuẩn đo lường chuỗi cung ứng; xác định các nguyên nhân cốt lõi gây ứ đọng vốn; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng tại Euvipharm.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ chuỗi giá trị của Euvipharm tại trụ sở nhà máy Đức Hòa (Long An) và chi nhánh TP.HCM, sử dụng dữ liệu sản xuất kinh doanh giai đoạn 2011 - 2013 cùng kế hoạch định hướng năm 2014. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua các chỉ tiêu định lượng: giúp doanh nghiệp kéo giảm thời gian tồn kho từ 100,2 ngày về mức an toàn 45 - 60 ngày, rút ngắn kỳ thu tiền từ 75,6 ngày xuống dưới 50 ngày, tạo động lực thúc đẩy nhóm sản phẩm chiến lược P1 tăng trưởng 30% doanh thu trong năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tiếp cận chuỗi cung ứng dựa trên nền tảng lý thuyết của Lambert, Stock và Ellram (1998) về sự tích hợp các quy trình kinh doanh từ người dùng cuối đến nhà cung cấp ban đầu, kết hợp quan điểm của Chopra và Meindl (2001) về việc tối ưu hóa mạng lưới sản xuất, tồn kho, vị trí và vận chuyển nhằm thỏa mãn khách hàng với tổng chi phí thấp nhất. Tác giả vận dụng mô hình mạng lưới giá trị của Souviron (2007) và khung phân tích quản trị điều hành của Hồ Tiến Dũng (2012) để thiết lập hệ thống đánh giá hoàn chỉnh.

Mô hình nghiên cứu phân tích 7 nội dung hoạt động cốt lõi của chuỗi cung ứng:

  • Hoạch định và dự báo nhu cầu sản xuất
  • Cung ứng và mua hàng nguyên vật liệu
  • Quản trị quy trình sản xuất dược phẩm
  • Tổ chức mạng lưới phân phối và logistics
  • Tối ưu hóa cấu trúc tổ chức nội bộ
  • Kiểm soát và thực thi kế hoạch giảm chi phí
  • Quản trị dịch vụ và quan hệ khách hàng

Bên cạnh đó, hiệu quả chuỗi cung ứng được lượng hóa qua 4 tiêu chuẩn chuẩn hóa quốc tế: Giao hàng đúng hạn (On-time Delivery), Chất lượng sản phẩm và dịch vụ (Quality), Thời gian chu kỳ kinh doanh (Lead Time & Cash-to-Cash Cycle), Chi phí toàn chuỗi (Total Supply Chain Cost). Các khái niệm chuyên ngành then chốt được tích hợp xuyên suốt gồm: Định mức nguyên liệu (Bill of Materials - BOM), Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP-WHO), Thực hành tốt phân phối thuốc (GDP), Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), và Quản trị quan hệ khách hàng (CRM).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh 113 mặt hàng phân loại theo 4 nhóm ưu tiên P1 - P4 giai đoạn 2011 - 2013, kế hoạch phân bổ sản xuất năm 2014, cùng các quy trình thao tác chuẩn (SOP) do Phòng Kế hoạch, Phòng Hoạt động và Phòng Tài chính - Kế toán cung cấp.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua khảo sát bảng hỏi điều tra thực tế với cỡ mẫu 245 phiếu hợp lệ từ các cán bộ quản lý, nhân viên kinh doanh, đối tác đại lý và nhà thuốc.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo khu vực địa bàn và phòng ban chức năng, đảm bảo tính đại diện cao cho các mắt xích phân phối. Phương pháp phân tích kết hợp định tính (thảo luận nhóm chuyên gia để nhận diện 7 nhóm nội dung hoạt động) và định lượng (thống kê mô tả điểm trung bình Mean và độ lệch chuẩn Standard Deviation trên thang đo Likert 5 điểm). Lý do lựa chọn phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu là nhằm đảm bảo tính khách quan, đo lường chính xác mức độ thỏa mãn của từng tiêu chí và kiểm định độ tin cậy của các nhân tố ảnh hưởng. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong năm 2013 và hoàn thành vào năm 2014, bám sát các thay đổi từ Thông tư liên tịch số 36/2013/TTLT-BYT-BTC về đấu thầu thuốc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm và phân tích dữ liệu kinh doanh tại Euvipharm đã làm rõ những phát hiện trọng yếu sau:

Thứ nhất, công tác dự báo và lập kế hoạch sản xuất chưa bám sát thực tế thị trường. Kết quả khảo sát 245 mẫu cho thấy nhân tố kế hoạch chỉ đạt điểm trung bình 3,401/5 về tính đa dạng danh mục và điểm thấp nhất 2,368/5 ở tiêu chí thời gian phát triển sản xuất mới. Kế hoạch năm 2014 phân bổ tỷ lệ tăng trưởng doanh thu theo nhóm mang tính cơ học (nhóm P1 tăng 30% đạt 3.825.444 USD, nhóm P2 tăng 79% đạt 1.738.838 USD, nhóm P3 tăng 43% đạt 1.391.071 USD, nhóm P4 cắt giảm 50% còn 1.043.303 USD) mà chưa tích hợp dữ liệu bán hàng thực tế từ hệ thống 5.435 điểm bán.

Thứ hai, thời gian tồn kho và chu kỳ chuyển hóa tiền mặt ở mức báo động. Mức tồn kho bình quân năm 2013 là 41,1 tỷ đồng, tương đương 100,2 ngày tồn kho. Khoản phải thu khách hàng duy trì ở mức 31 tỷ đồng khiến kỳ thu tiền bình quân lên đến 75,6 ngày. Chu kỳ kinh doanh tổng thể chạm mức 175,8 ngày, làm gia tăng chi phí lưu kho và rủi ro thuốc cận hạn dùng trong tổng chi phí chuỗi cung ứng 59,3 tỷ đồng.

Thứ ba, mạng lưới phân phối và logistics bộc lộ nhiều điểm yếu. Đội ngũ giao hàng nội bộ chỉ có 10 nhân viên, tập trung phục vụ các bệnh viện và nhà thuốc tại TP.HCM trong vòng 24 giờ. Đối với các tỉnh thành khác, công ty hoàn toàn phụ thuộc vào việc gửi hàng qua các chành xe tư nhân, làm tăng nguy cơ suy giảm chất lượng thuốc trong quá trình vận chuyển và tỷ lệ trễ hẹn giao hàng ước tính khoảng 15%.

Thứ tư, điểm sáng về chất lượng kỹ thuật sản xuất. Nhà máy duy trì nghiêm ngặt tiêu chuẩn GMP-WHO, GLP, GSP và ISO/IEC 17025. Tỷ lệ kiểm nghiệm sản phẩm năm 2013 đạt 91,98% so với năm 2012, hoàn thành 62 tiêu chuẩn đăng ký dược phẩm (gồm 6 tiêu chuẩn mới và 56 tiêu chuẩn đăng ký lại). Khách hàng đánh giá chất lượng sản phẩm đạt mức điểm cao 4,10/5.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến chu kỳ kinh doanh 175,8 ngày là sự thiếu kết nối thông tin thời gian thực giữa bộ phận tiếp thị, bán hàng và nhà máy sản xuất. Việc sử dụng các bảng tính phân tán đã gây ra hiệu ứng roi da (Bullwhip effect), khiến lượng tồn kho nguyên liệu và thành phẩm bị đội lên nhiều lần so với nhu cầu tiêu thụ thực.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ phân tán (Scatter Plot) mô tả tương quan giữa số ngày tồn kho (100,2 ngày) và kỳ thu tiền (75,6 ngày) của 10 sản phẩm chiến lược như Zasinat 500 (doanh thu 706.310 USD) hay Euvixim 100 (340.001 USD). Đồng thời, một bảng ma trận kết hợp đồ thị tròn cơ cấu doanh thu (nhóm P1 chiếm 42%, nhóm P4 chiếm 30% năm 2013) sẽ làm nổi bật sự cấp thiết của việc áp dụng phân tích ma trận ABC-XYZ trong kiểm soát tồn kho.

So sánh với mô hình chuỗi cung ứng của Vinamilk – đơn vị triển khai thành công hệ thống Oracle E-Business Suite 11i kết nối 13 địa điểm và 220 nhà phân phối độc lập để duy trì mức tồn kho dưới 30 ngày – Euvipharm cần nhanh chóng số hóa chuỗi cung ứng. Hơn nữa, việc Bộ Y tế ban hành Thông tư số 37/2013/TT-BYT và Thông tư liên tịch số 36/2013/TTLT-BYT-BTC về đấu thầu thuốc theo cơ chế chọn mức giá thấp nhất đòi hỏi Euvipharm phải triệt để tinh gọn chi phí chuỗi cung ứng để nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia thầu kênh bệnh viện (ETC).

Đề xuất và khuyến nghị

  • Ứng dụng mô hình hoạch định và dự báo cộng tác CPFR: Thiết lập quy trình chia sẻ thông tin dự báo bán hàng định kỳ giữa 220 đại lý phân phối trọng điểm và phòng kế hoạch sản xuất. Mục tiêu giảm sai số dự báo nhu cầu từ mức 25% xuống dưới 10%, hạ thời gian tồn kho từ 100,2 ngày xuống mức mục tiêu 45 ngày đối với nhóm P1 trong thời gian thực thi 6 tháng do Phòng Tiếp thị và Phòng Kế hoạch chủ trì.
  • Đầu tư chuyển đổi số hệ thống ERP và quản lý kho WMS: Tích hợp hệ thống phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP đồng bộ từ văn phòng điều hành TP.HCM đến kho nhà máy Long An. Mục tiêu cắt giảm 15% chi phí quản trị vận hành, tự động hóa kiểm soát số lô và hạn dùng theo nguyên tắc FEFO (hết hạn trước xuất trước) trong lộ trình 12 tháng do Ban Giám đốc và Bộ phận Công nghệ thông tin thực hiện.
  • Tối ưu hóa chính sách tín dụng và kiểm soát kỳ thu tiền: Phân loại khách hàng theo nhóm A, B, C dựa trên doanh số và lịch sử thanh toán, áp dụng chiết khấu 1,5 - 2% cho các đơn hàng thanh toán trong vòng 10 ngày. Mục tiêu rút ngắn kỳ thu tiền bình quân từ 75,6 ngày xuống dưới 50 ngày, đưa chu kỳ kinh doanh về dưới 95 ngày trong thời hạn 9 tháng dưới sự chỉ đạo của Phòng Tài chính - Kế toán.
  • Chuẩn hóa mạng lưới phân phối liên tỉnh đạt chuẩn GDP: Chuyển đổi mô hình gửi chành xe sang ký kết hợp đồng với các đơn vị dịch vụ logistics bên thứ ba (3PL) chuyên biệt ngành dược có phương tiện vận tải lạnh kiểm soát nhiệt độ dưới 25°C. Mục tiêu nâng tỷ lệ đơn hàng giao đúng hạn từ 85% lên trên 98% trong vòng 6 tháng do Phòng Kinh doanh và Bộ phận Logistics triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban lãnh đạo và giám đốc điều hành doanh nghiệp dược phẩm: Tiếp cận khung giải pháp tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn diện, quản trị danh mục 113 mặt hàng và phương pháp cắt giảm tổng chi phí 59,3 tỷ đồng nhằm tối ưu hóa giá thành dự thầu theo Thông tư liên tịch số 36/2013/TTLT-BYT-BTC.
  • Trưởng phòng chuỗi cung ứng, quản lý kho vận và mua hàng: Vận dụng công cụ phân loại nhóm ưu tiên P1 - P4, phương pháp thiết lập định mức an toàn tồn kho và kỹ thuật rút ngắn chu kỳ kinh doanh 175,8 ngày để tối ưu hóa dòng vốn lưu động.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngành Quản trị kinh doanh: Khai thác tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao với mô hình định lượng xử lý trên 245 mẫu khảo sát bằng phần mềm SPSS, kết hợp nghiên cứu tình huống thực tiễn so sánh với các điển hình như Vinamilk.
  • Chuyên viên phân tích tài chính và đầu tư y tế: Nắm bắt bức tranh chi tiết về cơ cấu tài chính, các khoản phải thu 31 tỷ đồng, vòng quay hàng tồn kho và các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng (GMP, GDP, GSP) ảnh hưởng trực tiếp đến định giá doanh nghiệp dược.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến chu kỳ kinh doanh của Euvipharm kéo dài tới 175,8 ngày là gì? Chu kỳ kinh doanh kéo dài do số ngày tồn kho bình quân lên tới 100,2 ngày và kỳ thu nợ khách hàng chiếm 75,6 ngày với tổng công nợ 31 tỷ đồng. Doanh nghiệp cần phối hợp dự báo bán hàng theo mô hình CPFR và áp dụng chiết khấu thanh toán 1,5% để rút ngắn chu kỳ về dưới 95 ngày.

Mô hình phân loại sản phẩm P1 đến P4 có vai trò gì trong quản trị chuỗi cung ứng? Mô hình phân loại 113 sản phẩm thành 4 nhóm giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn lực sản xuất. Nhóm P1 chiếm 42% doanh thu (2,93 triệu USD) được ưu tiên cung ứng nguyên liệu và duy trì tồn kho 45 ngày, trong khi nhóm P4 được chủ động cắt giảm 50% sản lượng để loại bỏ các mặt hàng kém hiệu quả.

Quy định đấu thầu thuốc theo Thông tư liên tịch số 36/2013/TTLT-BYT-BTC tạo ra thách thức gì cho Euvipharm? Thông tư quy định tiêu chí giá thấp nhất là yếu tố quyết định thắng thầu trong từng nhóm kỹ thuật. Do đó, Euvipharm buộc phải cắt giảm chi phí chuỗi cung ứng 59,3 tỷ đồng để cạnh tranh về giá mà vẫn duy trì chất lượng kiểm nghiệm đạt 91,98% theo chuẩn GMP-WHO.

Làm thế nào để Euvipharm khắc phục rủi ro vận chuyển hàng liên tỉnh bằng chành xe? Việc gửi chành xe dễ làm suy giảm chất lượng thuốc và vi phạm chuẩn GDP. Giải pháp tối ưu là ký hợp đồng với các đơn vị 3PL chuyên nghiệp sở hữu xe lạnh duy trì nhiệt độ dưới 25°C, giúp nâng tỷ lệ giao hàng đạt chuẩn đúng tiến độ từ 85% lên trên 98%.

Phần mềm SPSS đóng vai trò gì trong phương pháp nghiên cứu của luận văn? Phần mềm SPSS được sử dụng để xử lý thống kê mô tả 245 phiếu khảo sát theo thang đo Likert 5 điểm, giúp định lượng mức độ thỏa mãn 7 nội dung hoạt động chuỗi cung ứng và chỉ ra khâu lập kế hoạch có điểm thấp nhất (2,368/5) cần ưu tiên cải tiến.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng chuỗi cung ứng của Công ty Dược phẩm Euvipharm với quy mô đầu tư 17 triệu USD và danh mục 113 sản phẩm thuốc.
  • Kết quả nghiên cứu định lượng trên 245 mẫu khảo sát chỉ ra các điểm nghẽn nghiêm trọng: chu kỳ kinh doanh kéo dài 175,8 ngày, tồn kho 100,2 ngày và khâu kế hoạch chỉ đạt 2,368/5 điểm.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào 4 trụ cột chiến lược: ứng dụng dự báo CPFR, chuyển đổi số qua hệ thống ERP/WMS, siết chặt công nợ về dưới 50 ngày và chuẩn hóa logistics 3PL đạt chuẩn GDP.
  • Lộ trình triển khai phân kỳ từ 6 đến 12 tháng hướng tới mục tiêu tiết giảm tổng chi phí vận hành 59,3 tỷ đồng và thúc đẩy nhóm sản phẩm P1 tăng trưởng 30% doanh thu trong năm 2014.
  • Đóng góp khoa học của đề tài cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn quý báu cho các nhà quản trị ngành dược trong tiến trình nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững; các nhà quản lý hãy nhanh chóng áp dụng bộ giải pháp này vào thực tiễn doanh nghiệp để tối ưu hóa vận hành chuỗi cung ứng.