Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về chuỗi cung ứng 1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa hàng loạt các nhà cung ứng và khách hàng được kết nối với nhau, trong đó mỗi khách hàng đến lượt mình lại là nhà cung ứng cho tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm tới tay người tiêu dùng. Chuỗi này được bắt đầu từ việc khai thác các nguyên liệu thô và người tiêu dùng là mắt xích cuối cùng của chuỗi. Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” xuất hiện cuối những năm 1980 và trở nên phổ biến trong những năm 1990. Dưới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng : Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường.
Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, phân phối chúng cho khách hàng. Theo GS Souviron năm 2007: chuỗi cung ứng là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình và hoạt động khác nhau, sản sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm, dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng.
Việc sắp xếp năng lực của các thành viên trong chuỗi cung ứng ở phía trên hay phía dưới nhằm mục đích tạo ra giá trị lớn hơn cho người sử dụng, với chi phí thấp hơn cho toàn bộ chuỗi cung ứng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm hay một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng. Mô hình của chuỗi cung ứng như sau: Các Các Các Các nhà nhà nhà nhà Khách cung máy kho bán hàng cấp lẻ Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình Dựa vào các khái niệm về chuỗi cung ứng đã tham khảo, tác giả đã tổng hợp và xây dựng một nhận thức về chuỗi cung ứng như sau: Chuỗi cung ứng là chuỗi có liên kết chặt chẽ của các thông tin và các quá trình liên quan gồm: thu mua nguyên vật liệu, sản xuất, lưu kho, phân phối sản phẩm hay dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng. Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng gồm: nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà vận chuyển, kho, nhà phân phối, nhà bán lẻ và bản thân khách hàng.
Mỗi đối tượng sẽ có riêng cho mình một chuỗi cung ứng và các chuỗi cung ứng riêng này có mối liên hệ với nhau. Các đối tượng này có tương tác qua lại với nhau thông qua các quá trình liên quan và mỗi đối tượng đều có vai trò quan trọng trong chuỗi cung. Ví dụ: nhà cung cấp và nhà sản xuất tương tác nhau thông qua quá trình thu mua nguyên vật liệu; nhà sản xuất và nhà phân phối hay nhà vận chuyển tương tác nhau thông qua quá trình phân phối.Trong quá trình tương tác nhau thì việc thông tin qua lại giữa các đối tượng trong chuỗi có vai trò hết sức quan trọng để đảm bảo chuỗi cung ứng hoạt động đạt hiệu quả cao.2 Phân biệt chuỗi cung ứng với kênh phân phối, quản trị nhu cầu, logistics 1.1 Phân biệt chuỗi cung ứng với kênh phân phối Kênh phân phối là một thuật ngữ thường được sử dụng trong marketing, kênh phân phối là quá trình từ sản xuất đến khách hàng thông qua nhà phân phối, nó chỉ là một bộ phận của chuỗi cung ứng và là một phần của chuỗi cung ứng từ nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 sản xuất đến khách hàng. Như vậy, nói đến kênh phân phối là nói đến hệ thống bán hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.2 Phân biệt chuỗi cung ứng với quản trị nhu cầu Quản trị nhu cầu là quản lý nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ theo chuỗi cung ứng.
Nhu cầu có thể được quản lý thông qua cơ chế như là sản phẩm, giá cả, khuyến mãi và phân phối. Nhìn chung đây là những nhiệm vụ chủ yếu thuộc về marketing. Quản trị nhu cầu thì khá quan trọng nhưng thường hay bị bỏ sót trong quá trình quản trị chuỗi cung ứng. Nó thật sự là một bộ phận nhỏ trong quản trị chuỗi cung ứng và nó cần thiết cho việc kiểm soát các mức nhu cầu của hệ thống.
Chúng ta phải xem xét quản trị nhu cầu có vai trò quan trọng như quản trị luồng nguyên vật liệu và dịch vụ trong quản trị chuỗi cung ứng.3 Phân biệt chuỗi cung ứng với quản trị logistics Quản trị logistics được hiểu theo nghĩa rộng thì nó là quản trị chuỗi cung ứng. Một số nhà quản trị định nghĩa logistics theo nghĩa hẹp khi chỉ liên hệ đến vận chuyển bên trong và phân phối ra bên ngoài. Trong trường hợp này thì nó chỉ là một bộ phận của quản trị chuỗi cung ứng. Logistics là một lĩnh vực đang ở giai đoạn có nhiều sự quan tâm một cách mới mẻ đến nhà quản trị chuỗi cung ứng.
Logistics xuất hiện từ những năm 1960 khi mà ý tưởng về logistics hiện đại cùng theo với các chủ đề tương tự như môn động lực học công nghiệp đã nêu bật lên những tác động giữa các bộ phận của chuỗi cung ứng và chúng có thể ảnh hưởng đến quyết định của các bộ phận khác như trong quy trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.3 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế và kiểm soát luồng thông tin và nguyên vật liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được các yêu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai. Có 3 điểm chính về tính năng động của chuỗi cung ứng: Chuỗi cung ứng là một hệ thống có tính tương tác rất cao. Các quyết định ở mỗi bộ phận của chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến các bộ phận khác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chuỗi cung ứng có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi của nhu cầu.
Kho và nhà máy phải đảm bảo để đáp ứng đầy đủ đối với các đơn hàng lớn. Thậm chí nếu các thông tin hoàn hảo tại tất cả các kênh, sẽ có một phản ứng nhanh trong chuỗi cung ứng từ thời gian bổ sung. Cách tốt nhất để cải thiện chuỗi cung ứng là rút ngắn thời gian bổ sung và cung cấp thông tin về nhu cầu thực tế đến tất cả các kênh phân phối. Thời gian trong chuỗi cung ứng chỉ dùng để tạo sự thay đổi trong các đơn đặt hàng và hàng tồn kho.
Dự đoán của sự thay đổi nhu cầu cũng có thể làm giảm ảnh hưởng của những thay đổi thực tế và quản trị nhu cầu có thể làm ổn thỏa những thay đổi của nhu cầu. Có thế nói quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp của sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhịp nhàng và hiệu quả các nhu cầu của thị trường.2 Lịch sử phát triển chuỗi cung ứng 1.1 Chuỗi cung ứng khi chưa có công nghệ thông tin Trước chiến tranh thế giới thứ II, các công ty hoạt động nhờ vào chuỗi liên kết đơn giản, một chiều từ nhà sản xuất đến kho, tới nhà phân phối sỉ, lẻ và cuối cùng là người tiêu dùng. Chuỗi liên kết này hoạt động thông qua các bảng biểu, mỗi người của mỗi bộ phận của chuỗi liên kết làm việc với người kia thông qua giấy tờ. Chuỗi liên kết này hoạt động ở dạng sơ đẳng nhất của quy trình mua xác định, dự báo nhu cầu, quản lý tồn kho và vận chuyển không được rõ ràng.2 Sự phát triển vượt bậc của chuỗi cung ứng nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin Đầu năm 1960, năm mà bùng nổ quản lý chi phí, từ đây xuất hiện sự chuyển đổi từ hoạt động đơn lẻ sang hợp nhất các hoạt động của hệ thống.
Năm này cũng là năm đánh dấu sự ra đời của phần mềm quản lý kho đầu tiên, việc quản lý bước sang một trình độ cao hơn, không còn thủ công bằng giấy tờ. Năm 1970, hệ thống cung ứng được bổ sung thêm hệ thống quản lý MRP- Materia Requirement Planning – Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu. Hệ thống này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cho phép các nhà sản xuất theo dõi được dòng luân chuyển của nguyên vật liệu từ nguyên vật liệu thô đến nguyên vật liệu chờ sản xuất. Hệ thống MRP giải quyết được phần lớn về quản lý sản xuất, mối quan tâm của các nhà sản xuất bây giờ tập trung vào khách hàng.
Do đó Logistics cũng phát triển theo để đảm bảo phân phối tới người tiêu dùng đúng nơi, đúng lúc. Năm 1980, cùng với sự phát triển của hệ thống MRP II – Manufacturing Resource Planning - Hoạch định nguồn lực sản xuất – Logistics phát triển vượt bậc, trở thành chìa khóa để tạo sự khác biệt giữa hai công ty. MRP II cho phép doanh nghiệp kiểm soát và liên kết các hoạt động của doanh nghiệp từ kế hoạch nguyên vật liệu, kế hoạch tài chính tới kế hoạch sản xuất chính. Chính sự phát triển này đã đánh dấu sự ra đời của chuỗi cung ứng.
Năm 1990, cùng với sự phát triển của internet đã trở thành công cụ hữu hiệu của chuỗi cung ứng và đánh dấu sự phát triển vượt bậc của chuỗi cung ứng. Thông qua hệ thống trao đổi thông tin điện tử EDI – Electronic Data Interchange và giải pháp quản trị tài nguyên cho doanh nghiệp, hệ thống ERP – Enterprice Resource Planning đã cải tiến vược bậc cho việc truyền thông trong chuỗi cung ứng, trong thương mại điện tử và mua hàng đấu thầu trên mạng. Từ năm 2000 đến nay, chuỗi cung ứng hướng tới khách hàng, dòng luân chuyển của nguyên vật liệu, sự liền mạch và thông suốt của dòng thông tin nhưng quan trọng nhất vẫn là cung ứng và sự hợp nhất của các nhà cung ứng.3 Xu hướng phát triển của chuỗi cung ứng trong tương lai Xuất hiện chuỗi cung ứng mới: với sự phát triển của chuỗi cung ứng như hiện nay, nhiều chuỗi cung ứng sẽ ra đời và sẽ được ứng dụng rộng rãi trong thực tế.