Luận án tiến sĩ hoàn thiện chính sách đối với học sinh phổ thông dân tộc thiểu số trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hoàn thiện chính sách hỗ trợ học sinh phổ thông dân tộc thiểu số trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

262
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Chính sách giáo dục và học sinh dân tộc thiểu số

Chính sách giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) tiếp cận giáo dục. Các chính sách này bao gồm cả hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp, nhằm giảm thiểu khó khăn về kinh tế, địa lý, và văn hóa. Đổi mới giáo dục đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng và tính bền vững của các chính sách này. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc hoàn thiện chính sách để đảm bảo cơ hội học tậpphát triển giáo dục cho học sinh DTTS.

1.1. Hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp

Các chính sách hỗ trợ trực tiếp bao gồm học bổng, miễn giảm học phí, và hỗ trợ tài chính. Trong khi đó, hỗ trợ gián tiếp tập trung vào phát triển cơ sở vật chất và đào tạo giáo viên. Chính sách hỗ trợ học sinh cần được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh đổi mới giáo dục, đặc biệt là trong việc đào tạo nghề cho học sinhphát triển bền vững.

1.2. Thách thức và cơ hội

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, chất lượng giáo dục ở các vùng DTTS vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ phòng học kiên cố thấp, thiếu nhà vệ sinh và nước sạch là những vấn đề cần giải quyết. Chính sách phát triển giáo dục cần tập trung vào việc đảm bảo quyền lợi học sinhtăng cường giáo dục hòa nhập.

II. Đổi mới giáo dục và chính sách hỗ trợ

Đổi mới giáo dục đòi hỏi sự thay đổi toàn diện từ quan điểm, mục tiêu đến phương pháp và cơ chế thực hiện. Chính sách hỗ trợ học sinh DTTS cần được điều chỉnh để phù hợp với xu hướng này. Luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách để hỗ trợ học sinh DTTS trong việc tiếp cận giáo dục chất lượngđào tạo nghề.

2.1. Nội dung đổi mới

Đổi mới giáo dục tập trung vào việc chuẩn hóa và hiện đại hóa hệ thống giáo dục. Các chính sách hỗ trợ học sinh cần được thiết kế để đáp ứng yêu cầu này, đặc biệt là trong việc phát triển giáo dục hòa nhậpđào tạo nghề cho học sinh.

2.2. Giải pháp hoàn thiện

Luận án đề xuất các giải pháp như tăng cường hỗ trợ tài chính cho học sinh, cải thiện cơ sở vật chất, và đào tạo giáo viên. Các giải pháp này nhằm đảm bảo chất lượng giáo dụccơ hội học tập cho học sinh DTTS trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

III. Phát triển bền vững và đảm bảo quyền lợi

Phát triển bền vững là mục tiêu quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách học sinh DTTS. Các chính sách cần đảm bảo tính liên tục và hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện để học sinh DTTS tiếp cận giáo dục chất lượngđào tạo nghề. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc đảm bảo quyền lợi học sinhhỗ trợ tài chính.

3.1. Tính bền vững của chính sách

Các chính sách hỗ trợ học sinh cần được thiết kế để đảm bảo tính bền vững, đặc biệt là trong việc phát triển giáo dục hòa nhậpđào tạo nghề cho học sinh. Luận án đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường chất lượng giáo dụccơ hội học tập cho học sinh DTTS.

3.2. Đảm bảo quyền lợi học sinh

Đảm bảo quyền lợi học sinh là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách học sinh DTTS. Các chính sách cần tập trung vào việc hỗ trợ tài chính cho học sinhtăng cường giáo dục hòa nhập để đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI HỌC SINH PHỔ THÔNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 1. Một số nghiên cứu liên quan đến quá trình chính sách H. Lasswell chia quá trình CS công thành 7 giai đoạn: thu thập thông tin, đề xuất, ra quyết định, hướng dẫn, áp dụng, kết thúc và đánh giá.

Jones, quá trình CS gồm 5 giai đoạn: 1. thiết lập chương trình nghị sự; 2. xây dựng CS; 3. quyết định CS; 4.

thực hiện CS; 5. đánh giá CS [95, tr. Năm 1977, Jennings cho rằng quá trình làm CS gồm nhiều bước, bao hàm nhiều quyết định của các nhà làm CS. Năm 1984, Hogwood và Gunn chia quá trình CS ra 9 bước: 1.

tìm hiểu vấn đề và đưa vấn đề vào chương trình nghị sự; 2. lựa chọn vấn đề; 3. xác định mục tiêu và ưu tiên; 6. phân tích các phương án; 7.

thực hiện CS, theo dõi, kiểm tra; 8. đánh giá, tổng kết; 9. sửa đổi, tiếp tục hoặc kết thúc một CS. Năm 1985, Harman xem xét quá trình CS gồm 5 giai đoạn: 1.

xuất hiện vấn đề, xác định vấn đề CS; 2. dự thảo, thông qua CS; 3. thực hiện CS; 4. đánh giá, tổng kết CS; 5.

kết thúc hoặc điều chỉnh CS. [65] Trong nước, có nhiều nghiên cứu liên quan đến quá trình CS. Năm 2007, Vũ Thanh Sơn đề cập một số vấn đề về sự tham gia của người dân vào quy trình CS công [92]. Nhiều nghiên cứu sau đó về phản biện CS, vận động chính, tác động của các nhóm lợi ích đến CS như Nguyễn Thị Vân Hương (2009) với “Những khó khăn, thuận lợi trong phản biện chính sách công ở Việt Nam” [63].

Năm 2014, Nguyễn Hữu Để đề cập một số vấn đề về “Tác động của các nhóm lợi ích đến việc ban hành chính sách” [40]. Đào Trí Úc, Vũ Công Giao, Nguyễn Thị Mơ, Đỗ Phú Hải, Ngô Vương Anh (2015), phân 8 tích các vấn đề liên quan đến “Vận động chính sách công - Lý luận và thực tiễn” [122]. Nguyễn Thị Thúy (2015) luận giải “Sự tác động của các tổ chức chính trị - xã hội với chính sách công” [107]. Phạm Tất Thắng (2017), “Tăng cường phản biện xã hội trong xây dựng chính sách ở nước ta” [97].

Một số nghiên cứu khác phân tích sâu về các khâu trong quá trình CS như Vũ Cao Đàm (2011) đề cập về tổ chức thực hiện CS, phân tích CS, chuẩn bị quyết định CS [39]. Lê Như Thanh - Lê Văn Hòa (2016) luận giải về căn cứ, yêu cầu trong hoạch định CS, lựa chọn công cụ thực hiện CS công [95]. Trương Ngọc Nam, Chang Jae Yun, Đỗ Chí Nghĩa, Nguyễn Văn Dũng, Uhm Seung - Yuong, Vũ Thanh Vân, Nguyễn Xuân Phong, Nguyễn Thị Trường Giang (2017) phân tích về “Truyền thông chính sách - Kinh nghiệm Việt Nam và Hàn Quốc”.[75] Các tác giả đã luận giải sâu sắc về quá trình CS, thực trạng, giải pháp về CS, sự tham gia của chủ thể, đối tượng, các nhóm lợi ích… Nhiều nghiên cứu về vận động, phản biện, truyền thông, yêu cầu của CS, các khâu trong quá trình CS… Mặc dù chưa có nghiên cứu riêng cho quá trình CS đối với HSPT DTTS nhưng các nghiên cứu trên làm cơ sở lý luận, thực tiễn vững chắc cho luận án xác định quá trình CS đối với HSPT DTTS. Một số nghiên cứu liên quan đến chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với học sinh phổ thông dân tộc thiểu số - Gia đình, vùng cư trú trong quá trình tiếp cận giáo dục Có nhiều nghiên cứu liên quan đến điều kiện kinh tế gia đình, môi trường sống ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận GDPT đối với học sinh DTTS.

Phạm Quang Sáng trong nghiên cứu của mình về các rào cản phát triển giáo dục ở các xã ĐBKK thuộc chương trình 135 đề cập sự bất bình đẳng trong tiếp nhận giáo dục có liên quan đến nhiều yếu tố: 1. Cản trở mang tính kinh tế. Cản trở về mạng lưới trường, phân bổ trường, lớp xa chỗ ở gia đình, sự phát triển chậm các dịch vụ cho những người nghèo, người DTTS. Cản trở về điều kiện trực tiếp liên quan đến cải thiện chất lượng giáo dục, thời gian tiếp cận giáo dục chưa đáp ứng yêu 9 cầu.

Cản trở từ việc không đảm bảo nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục vùng khó khăn…[90] Các nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân ảnh hưởng, đề xuất một số giải pháp tạo điều kiện tiếp cận giáo dục của học sinh vùng khó khăn, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, học sinh DTTS, là cơ sở khoa học quan trọng cho luận án. - Ngôn ngữ trong quá trình tiếp cận giáo dục Adama Ouane and Christine Glanz nghiên cứu về đa ngôn ngữ ở Châu Phi. Tác giả đề cập một số vấn đề liên quan đến ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, hiệu quả của giáo dục song ngữ đối với học tập suốt đời, mô hình ngôn ngữ nào tốt ở Châu Phi…[130] Các nghiên cứu liên quan vai trò của ngôn ngữ, phương tiện trong quá trình tiếp cận giáo dục của học sinh DTTS là những nội dung quan trọng mà đề tài kế thừa nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện CS đối với HSPT DTTS. - Thể trạng, thể chất trong quá trình tiếp cận giáo dục Grace Ka, Jennifer S.Thompson đề cập đến các nhóm dân tộc khác nhau có liên quan đến sự khác biệt về kết quả học tập [132].

Các nghiên cứu trong nước mặc dù không trực tiếp về CS hỗ trợ phát triển thể chất đối với HSPT DTTS nhưng là những nghiên cứu về thể trạng, thể chất, dân số liên quan đến giáo dục. Năm 2006, Đặng Quốc Bảo nghiên cứu về chất lượng dân số nhìn từ góc độ giáo dục [8]. Năm 2007, Dương Thị Hoàng Yến nghiên cứu về giáo dục trí tuệ cảm xúc, một nội dung quan trọng và cần thiết trong giáo dục ở trường phổ thông [128]. Năm 2013, tác giả tiếp tục đề xuất hệ thống tiêu chí đánh giá nhân cách học sinh phổ thông theo quan điểm giáo dục toàn diện [129].

Năm 2017, trong Luận án tiến sỹ của mình, Nguyễn Hồng Trường đề cập về CS dinh dưỡng cho học sinh TH ở Việt Nam [116]. Năm 2018, Quỳnh Châm nghiên cứu về các giải pháp, CS mới trong 10 công tác giáo dục thể chất, y tế trường học và chăm sóc giáo dục học sinh [16]. Đây là những công trình nghiên cứu có giá trị lý luận, thực tiễn quan trọng mà luận án có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu. - Hỗ trợ dạy tiếng dân tộc thiểu số; bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc Năm 2018, Teacircleoxford công bố nghiên cứu về “cơ hội” và “cạm bẫy” trong việc dạy tiếng, văn hóa và lịch sử trong các trường của Chính phủ trong “Teaching Ethnic Languages, Cultures and Histories in Government Schools Today: Great Opportunities, Giant Pitfalls?” [148].

Năm 2007, Lô Thị Hương nghiên cứu về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, những vấn đề đặt ra đối với các trường PTDTNT trong giai đoạn hiện nay. Tác giả khuyến nghị một số giải pháp như cần đổi mới, nâng nhận thức về hoạt động giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cho đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường PTDTNT. Nhà trường cần chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phù hợp với đặc điểm của địa phương, phong phú, hấp dẫn. Nhà trường phối hợp với các lực lượng giáo dục cùng tham gia hoạt động giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc… [62] Các nghiên cứu đã phân tích, luận giải vai trò, khó khăn, đề xuất giải pháp cho quá trình phát triển toàn diện đối với HSPT DTTS trong nhà trường phổ thông, trường PTDTNT qua hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc, dạy tiếng DTTS.

- Hỗ trợ bình đẳng, bình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục Năm 1990, Steven S. Goldberg nghiên cứu về đặc tính học sinh thuộc nhóm dễ bị tổn thương (At - Risk student). Ông tiếp cận theo bình diện rộng, công bằng trong giáo dục [136]. Trong nước có nhiều nghiên cứu liên quan đến bình đẳng giới, bình đẳng giới đối với HSPT DTTS.

Năm 2004, Đặng Quốc Bảo công bố kết quả GDI: Một biến thể của HDI đo sự phát triển con người bao quát được trạng thái bình đẳng giới về giáo dục, kinh tế, tuổi thọ [6]. Phạm Văn Dũng trong 11 luận án “Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay” xác định thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục ở vùng DTTS là tạo điều kiện, cơ hội học tập phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, truyền thống, phong tục tập quán, điều kiện KT - XH. Có CS ưu tiên đối với DTTS sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng ĐBKK, vùng căn cứ cách mạng. Thực hiện công bằng giáo dục ở các vùng DTTS là tạo cơ hội học tập ngang nhau cho DTTS tham gia vào quá trình giáo dục, tạo điều kiện tốt nhất để đồng bào DTTS bình đẳng trong tiếp cận, tham gia vào quá trình giáo dục.

[37] Các công trình đã nghiên cứu về lý luận, thực trạng bình đẳng, bình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục. Đây cũng là cơ sở quan trọng để luận án kế thừa, nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện CS đối với HSPT DTTS trong bối cảnh đổi mới giáo dục. - Hỗ trợ phân luồng, hướng nghiệp Năm 2005, Lê Nguyên Quang đề cập công tác phân luồng, hướng nghiệp, dạy nghề ở trường PTDTNT. Tác giả khuyến nghị cần tổ chức phân luồng, hướng nghiệp hiệu quả cho học sinh sau lớp 10; xây dựng kế hoạch, triển khai dạy nghề cho học sinh; hình thành bộ phận chuyên trách hướng nghiệp, dạy nghề của nhà trường; thực hiện công tác phân luồng, hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh theo khung nghề; đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, nguyên vật liệu; xây dựng khung kinh phí, pháp lý kết hợp với đơn vị dạy nghề tại địa phương theo hợp đồng đào tạo.

Các nghiên cứu đã hệ thống cơ sở lý luận, thực trạng, đề xuất giải pháp phân luồng, hướng nghiệp trong trường phổ thông, trường PTDTNT. - Phổ cập giáo dục Miki Sugimura nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tiến trình phổ cập giáo dục TH, các nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình phổ cập trong trường hợp quốc gia đang phát triển như Malaysia. [133] 12 Lê Vân Anh (2007) đề cập về phổ cập giáo dục THCS vùng khó khăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hoàn Thiện Chính Sách Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Trong Đổi Mới Giáo Dục" tập trung vào việc cải thiện và nâng cao các chính sách giáo dục dành cho học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Tài liệu này phân tích các thách thức mà học sinh dân tộc thiểu số phải đối mặt, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để đảm bảo sự công bằng và chất lượng giáo dục. Đọc tài liệu này, bạn sẽ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc điều chỉnh chính sách giáo dục để phù hợp với nhu cầu đa dạng của các nhóm dân tộc, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của giáo dục Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề đổi mới giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn đạo đức ở các trường tiểu học quận 12 thành phố hồ chí minh, nơi đi sâu vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đổi mới công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ đảng viên ở quận phú nhuận thành phố hồ chí minh hiện nay cung cấp góc nhìn về đổi mới giáo dục trong lĩnh vực pháp luật. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ quản lý tuyển sinh đại học trong thời kỳ đổi mới giáo dục đại học hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý giáo dục ở cấp đại học. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của đổi mới giáo dục.