Chương 1: Cơ sở lý luận của chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Hiện trạng mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia. Chương 3: Đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN MẠNG LƢỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CÁC CHƢƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA 1.
Giải thích các khái niệm 1. Khái niệm về thông tin, thông tin KH&CN và mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia 1. Khái niệm về thông tin Trong cuộc sống hàng ngày, các mối quan hệ của con người diễn ra là nhờ có sự trao đổi bằng thông tin. Tất cả những thứ trao đổi đó dù là bằng ngôn ngữ tượng trưng hay ngôn ngữ tượng hình, dù là cử chỉ hay lời nói, mà con người trao đổi với nhau đều được coi là thông tin.
Vậy thực chất thông tin là gì? Có một định nghĩa nào được coi là chuẩn xác về thông tin hay không? Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Thông tin là sự truyền tải tri thức trong xã hội. Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả những gì về các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán góp phần làm tăng hiểu biết của con người.
Về bản chất, thông tin là một đối tượng trừu tượng, vô hình, được biểu thị qua nội dung của sự vật, được tiếp thu và được sử dụng cho các mục đích khác nhau. Thuật ngữ “Thông tin” (theo gốc Latinh là Informatio - có nghĩa là diễn giải, thông báo, lý giải) - là một thuật ngữ thường xuyên được nhắc tới, được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thông tin: Theo từ điển Oxford English Dictionary, Thông tin là điều mà người ta đánh giá, hoặc nói đến, là 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tri thức, là tin tức. Nhiều từ điển khác đồng nhất thông tin với kiến thức: “Thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “Thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm hiểu biết của con người”.
Tùy theo quan điểm cụ thể, thông tin được định nghĩa theo cách tương ứng, ví dụ theo quan điểm triết học, thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương tác của các hiện tượng, sự việc của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong khi theo quan điểm của Lý thuyết thông tin, thông tin là sự loại trừ tính bất định của hiện tượng ngẫu nhiên. Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453 – 1991 “Thông tin là dữ liệu, tin tức, dữ kiện, tri thức được xem xét trong quá trình tồn tại và vận động trong không gian và thời gian”. Như vậy, thông tin là kết quả của sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa trên những dữ liệu sẵn có để phục vụ nhu cầu của người dùng tin.
Căn cứ vào đặc điểm, nội dung của tin tức, có thể chia thông tin thành các loại thông tin kinh tế, thông tin quản lý, thông tin KH&CN v. Mỗi loại thông tin đều có đặc trưng riêng, song nhìn chung chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xã hội. Và như vậy, theo tác giả Luận văn, dưới dạng khái quát nhất, thông tin chính là những dữ liệu, số liệu, tin tức được đặt trong văn cảnh, được lưu giữ trên những vật mang tin khác nhau và được xem xét trong quá trình tồn tại, vận động trong không gian và thời gian. Khái niệm về thông tin KH&CN Trước tiên, ta tìm hiểu hai khái niệm ”Khoa học” và ”Công nghệ” bởi lẽ, trên thực tế có rất nhiều người đánh đồng hai khái niệm này với nhau.
Nhưng thực chất, khoa học và công nghệ là hai khái niệm khác nhau hoàn toàn. Khái niệm khoa học có 4 cách tiếp cận: Theo cách tiếp cận bản thể học: khoa học là một hệ thống tri thức về các quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy, con người. Trên thế giới có rất nhiều loại tri thức, có thể chia ra là tri thức kinh nghiệm ( Nhờ rút ra từ các bài học thực tế ) và tri thức khoa học ( thu thập được nhờ hoạt động 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu khoa học, có được là nhờ có mục tiêu từ trước, tiến hành công việc theo phương pháp khoa học). Theo cách tiếp cận xã hội học: khoa học là một hoạt động xã hội.
Đây là hoạt động của con người nhằm nghiên cứu, khám phá các bản chất của sự vật và hiện tượng. Cũng theo cách tiếp cận khác của xã hội học: khoa học là một thiết chế xã hội. Theo cách tiếp cận của triết học: khoa học là một hình thái ý thức xã hội. Triết học đề cập tới năm hình thái ý thức xã hội.
Đó là Hệ chính trị, ý thức pháp quyền, đạo đức, khoa học và tôn giáo. Các hình thái ý thức xã hội này tương tác nhưng không lệ thuộc. Theo quan điểm của tác giả Luận văn: khoa học là hệ thống tri thức, là sản phẩm của tư duy của con người. Cũng như khái niệm khoa học, khái niệm công nghệ cũng được đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau như: Định nghĩa của ESCAP: Công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin.
CN bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ. Theo lý thuyết tổ chức: Công nghệ là khoa học và nghệ thuật dùng trong sản xuất, phân phối hàng hoá và dịch vụ. Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sảnphẩm. Theo tác giả Luận văn, công nghệ là các thao tác kỹ thuật tin cậy, nhằm tạo ra các sản phẩm theo thiết kế được áp dụng vào sản xuất và đời sống.
Các sản phẩm này tuân theo quy luật của chu trình sống, hay còn gọi là vòng đời công nghệ. Như vậy, từ các khái niệm về thông tin, khoa học và công nghệ có thể xem xét khái niệm thông tin KH&CN. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối với khái niệm Thông tin KH&CN cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau chẳng hạn “Thông tin KH&CN là các thông tin nhận được và tích lũy trong quá trình phát triển KH&CN và hoạt động thực tiễn của con người” hay “là một tập hợp có hệ thống những xuất bản phẩm tồn tại trên các vật mang tin khác nhau được lựa chọn và sử dụng nhằm mục đích phục vụ các nhiệm vụ của các cơ quan KH&CN. Theo Nghị định 159/2004/NĐ – CP ngày 31 tháng 08 năm 2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ “Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội”.
Cách định nghĩa này nhấn mạnh mục đích quản lý và sử dụng thông tin KH&CN như một dịch vụ công ích, trong khi đồng nhất giữa thông tin KH&CN với tri thức KH&CN. Mới đây, theo Điều 3 của Nghị định 11/2014/NĐ – CP Về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, “Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo”. Cách định nghĩa này rất cô đọng, dễ hiểu, dễ nhớ, song có thể được xem là khá phiến diện, chủ yếu nhấn mạnh đến nguồn gốc sản sinh và đồng nhất thông tin với dữ liệu, số liệu, tin tức. Theo tác giả Luận văn, thông tin KH&CN là thông tin phản ánh trung thực sự vật, hiện tượng của thực tiễn khách quan, tư duy con người và được sử dụng trong điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể.
Là một trong các loại hình thông tin, thông tin KH&CN vừa là nguồn lực của phát triển, vừa là của cải và tài sản của xã hội, là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản sinh ra các sản phẩm KH&CN mới ở trình độ cao hơn. Hiện nay, thông tin, nhất là thông tin KH&CN trở thành một dạng hàng hóa đặc biệt có giá trị cao, là nhu cầu cơ bản, là nguồn lực không thể thiếu của mọi cá nhân, mọi tổ chức và mọi quốc gia. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh khái niệm “thông tin khoa học và công nghệ”, khái niệm “nguồn tin khoa học và công nghệ” cũng thường được nhắc đến, nhất là khi đề cập đến chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nghiên cứu và phát triển nói chung, các chương trình KH&CN cấp quốc gia, nói riêng. Nguồn tin KH&CN bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập.
Đây được cho là nguồn tri thức đã được bộc lộ, được mã hóa (Explicit knowledge) trong khi so sánh với nguồn tri thức tiềm ẩn (Tacit knowledge) bao gồm các bí quyết kỹ thuật, bí kíp kinh doanh (know how), tri thức bản địa, tri thức chuyên môn sâu. Xét về xuất xứ đối với một quốc gia cụ thể, thông tin KH&CN cũng như các thông tin khác được thu thập từ 2 nguồn gồm: nguồn tin KH&CN nội sinh và nguồn tin KH&CN ngoại sinh (được nhập từ nước ngoài) dưới các hình thức khác nhau.