Chương 1 - Cơ sở lý luận: trình bày các khái niệm công cụ, điểm luận các công trình nghiên cứu đi trƣớc có liên quan. Chương 2 -Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình tổ chức và các bƣớc tiến hành nghiên cứu, đặc điểm khách thể và địa bàn nghiên cứu, phƣơng pháp và cấu trúc công cụ nghiên cứu Chương 3- Kết quả nghiên cứu. Kết luận và khuyến nghị. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm công cụ liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu gồm: khái niệm hành vi; khái niệm sexting, khái niệm dự định và hành vi sexting; khái niệm thái độ, khái niệm chuẩn mực, khái niệm lòng tự trọng, khái niệm HS THCS, khái niệm SV Đại học.
Bên cạnh đó, trong phần này cũng sẽ trình bày những kết quả nghiên cứu đi trƣớc về sexting tập trung vào tỷ lệ sexting, nhóm tuổi sexting, ảnh hƣởng của các biến nhân khẩu học đến hành vi sexting, những yếu tố nguy cơ sexting, thái độ với hành vi sexting, nhận thức về hậu quả của hành vi sexting, động cơ sexting… 1. Một số khái niệm công cụ: 1.Khái niệm hành vi Theo ―Từ điển Tiếng Việt‖ do tác giả Hoàng Phê chủ biên. Hành vi đƣợc định nghĩa: ―Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cƣ xử biểu hiện ra bên ngoài của một ngƣời trong hoàn cảnh nhất định‖[11]. Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xác định:―Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cƣ xử biểu hiện ra bên ngoài của một ngƣời trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định‖[5].
Bên cạnh các cách định nghĩa phổ thông, các nhà nghiên cứu tâm lý cũng đƣa ra các định nghĩa khoa học về hành vi. Ví dụ nhƣ tác giả Nguyễn Khắc Viện đã định nghĩa hành vi là các hoạt động cụ thể, những phản ứng của con ngƣời hay động vật khi bị một yếu tố nào đó trong môi trƣờng kích thích với mục đích là thích nghi với môi trƣờng. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động xã hội và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích của một cá nhân. Còn theo Vũ Dũng thì hành vi đƣợc định nghĩa là: (1) Sự tƣơng tác với môi trƣờng có ở động vật và loài ngƣời, trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý) của chúng; (2) Tính tích cực có định hƣớng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài[1].
Thuật ngữ đƣợc ứng dụng đối với các con vật, các cá thể nhất định cũng nhƣ với tổng thể của chúng (hành vi của loài sinh vật, nhóm xã hội). 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên thế giới, những thực nghiệm khoa học đầu tiên về hành vi xuất hiện trên cơ sở quyết định luận cơ học, trong các phạm trù của nó, hành vi đƣợc luận giải theo kiểu tƣơng tác vật lý giữa các vật thể. Thuyết tiến hoá trong sinh vật học (Darwin) cho phép giải thích tính hợp lý của hành vi động vật, kích thích khai thác các phƣơng pháp khách quan để nghiên cứu hành vi trong sự thống nhất các biểu hiện bên trong và bên ngoài của nó. Trên cơ sở quyết định luận sinh học có học thuyết về hoạt động thần kinh cấp cao của động vật, đƣợc Pavlop (14/9/1849 – 27/ 2 /1936, hà sinh lý học, tâm lý học ngƣời Nga) coi là đồng nghĩa với hành vi.
Thuyết hành vi đối lập hành vi với ý thức, cho rằng đối tƣợng của tâm lý học chỉ có thể là hành vi, và đƣợc coi là tổng hợp các phản ứng vận động đối với các kích thích bên ngoài. Tiếp theo đó, các nhà hành vi học mới (bao gồm các tác giả E.Skinner) đƣa vào mô hình này một số thay đổi. Cụ thể hành vi có công thức nhƣ sau: S→M→R + S là kích thích: gây nên sự hoạt động và làm thúc đẩy hoạt động của con ngƣời. Hiệu quả của kích thích tạo nên phụ thuộc vào: loại tác nhân kích thích, cƣờng độ kích thích, tần suất kích thíc và thời điểm chịu kích thích cơ thể có nhu cầu gì.
+ M là yếu tố trung gian: bao hàm ý thức ( nhận thức, tình cảm , thái độ.) Ý thức của các cá nhân quyết định phản ứng đáp lại của cơ thể. Ý thức của mỗi ngƣời không giống nhau, nên cùng một kích thích tác động, các cá nhân có cách xử lý khác nhau, do đó dẫn đến phản ứng đáp lại cũng khác nhau. + R là phản ứng trả lời.L, nhà tâm lý học hoạt động thì hành vi là hình thức đặc biệt của hoạt động: nó trở thành hành vi khi động cơ hành động từ kế hoạch đối tƣợng chuyển sang kế hoạch quan hệ nhân cách xã hội (hai kế hoạch này không tách rời nhau: quan hệ nhân cách xã hội đƣợc hiện thực hoá ở quan hệ đối tƣợng). Hành vi ngƣời có tiền đề tự nhiên, nhƣng trên cơ sở đƣợc chế định bởi xã hội, gián tiếp bởi ngôn ngữ và các hệ thống dấu hiệu - ngữ nghĩa khác, mà hình thức đặc trƣng của chúng là lao động, còn thuộc tính là giao tiếp.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hành vi đặc thù của cá nhân phụ thuộc vào tính chất mối quan hệ qua lại với nhóm mà anh ta là thành viên, vào chuẩn mực nhóm, vào định hƣớng giá trị và sự ấn định vai. Tính không thích hợp của hành vi (đƣợc thể hiện một phần ở chỗ nhân cách đánh giá quá cao các khả năng của mình, tách rời ngôn ngữ và thực tiễn, làm suy giảm tính phê phán khi kiểm soát việc hiện thực hoá các chƣơng trình hành vi) thể hiện một cách tiêu cực trong các mối quan hệ liên nhân cách. Cái quan trọng trong hành vi là mối liên hệ với các chuẩn mực đạo đức. Hành vi đƣợc nghiên cứu không chỉ trong tâm lý học mà còn ở các ngành khác nhƣ sinh học, khoa học xã hội và một số khía cạnh của điều khiển học.
Nhƣ vậy cho đến nay khái niệm hành vi vẫn chƣa có đƣợc sự thống nhất do mỗi tác giả khi nghiên cứu và đƣa ra khái niệm dựa trên những góc độ khác nhau. Có những quan niệm cho rằng hành vi là tất cả mọi phản ứng của con ngƣời, bao gồm cả phản ứng vô thức và có ý thức. Ngƣợc lại, có quan niệm lại cho rằng hành vi chỉ bao gồm các phản ứng có ý thức, đƣợc ý thức điều khiển. Có ý kiến khẳng định hành vi là hoạt động nhƣng có ý kiến lại cho rằng hành vi chỉ là một bộ phận cấu thành hoạt động.
Trên cơ sở quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trƣớc, chúng tôi mạnh dạn đƣa ra quan điểm cá nhân về định nghĩa hành vi nhƣ sau: Hành vi là hành động, cử chỉ, lời nói của con người trong một tình huống cụ thể. Còn dự định hay ý định (hành vi) đƣợc quan niệm là sự định hƣớng của ý thức, tƣ duy lên một đối tƣợng nào đó, là mặt tiềm ẩn bên trong của hành vi con ngƣời. Khái niệm sexting và hành vi sexting Sexting là một thuật ngữ mới đƣợc sáng tạo từ từ ghép ―sex‖ và ―texting‖. Chính vì vậy sexting mang ý nghĩa là hành vi gửi, nhận hoặc chuyển tiếp những tin nhắn có nội dung gợi cảm nhƣ: tin nhắn tục tĩu, ảnh khỏa thân, bán khỏa thân và các tƣ thế bất nhã khác của bản thân ngƣời gửi hoặc của một ai đó qua các thiết bị điện tử mà chủ yếu là điện thoại.
Theo ngôn ngữ của giới trẻ bây giờ, những hình ảnh này đƣợc gọi chung là ―ảnh nóng‖. Xuyên suốt trong đề tài này, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ ―sexting‖ với nghĩa ―gửi, nhận, chuyển tiếp, chia sẻ tin nhắn chữ, hình ảnh hoặc phim có nội dung bất nhã‖[48], 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sexting là từ mới xuất hiện ở Việt Nam, bản thân nó lại không phải là một từ thuần việt hay hán việt mà là từ ghép của 2 từ tiếng anh. Do đó có hạn chế là những ngƣời không biết ngoại ngữ có thể không hiểu ngữ nghĩa vốn có của từ mà chỉ hiểu ý nghĩa của nó sau khi đã đƣợc diễn giải là hành vi gửi, nhận hoặc chuyển tiếp những tin nhắn có nội dung gợi cảm nhƣ: ảnh khỏa thân, bán khỏa thân và các tƣ thế bất nhã khác của bản thân ngƣời gửi hoặc của một ai đó qua các thiết bị điện tử mà chủ yếu là điện thoại. Dù biết rõ có hạn chế nhƣ vậy nhƣng trong khuôn khổ luận văn này, ở tên đề tài chúng tôi đã giữ nguyên từ sexting mà không Việt hóa bởi các lý do: Thứ nhất, để tìm từ hán việt hoặc thuần việt thay thế từ sexting thì từ đó phải đảm bảo mang ý nghĩa khái quát nhất, bao hàm đủ tất cả các ý nghĩa của từ sexting nhƣng vẫn phải đảm bảo tính dễ hiểu, ngắn gọn, súc tích của từ tiếng việt.
Trong quá trình tìm kiếm chúng tôi chƣa thể tìm đƣợc một từ hán việt hoặc thuần việt nào có thể thay thế hợp lý cho từ sexting. Thứ hai sexting (đƣợc ghép từ hai từ đơn là sex và texting) là một từ mới nhƣng trên thực tế thì từ sex, một bộ phận cấu thành từ sexting đã phổ biến tại Việt Nam từ nhiều thập kỷ nay. Từ các phƣơng tiện truyền thông cho đến trong đời sống thực ngƣời ta vẫn dùng từ sex để chỉ nhiều vấn đề về giới tính, tình dục, gợi cảm. Thậm chí thay vì dùng từ gợi cảm, quyến rũ để nói về sức hấp dẫn giới tính của một cá nhân thì mọi ngƣời đã dùng từ sexy.
Ở Việt Nam từ sexting chỉ mới đƣợc biết đến vài năm nhƣng trên thế giới đây là một từ phổ biến, đƣợc giới truyền thông và xã hội chấp nhận. Vì vậy chúng ta cũng nên chấp nhận từ sexting theo xu hƣớng chung này. Thứ ba, trong ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay đã chấp nhận sử dụng rất nhiều từ nguyên bản từ nƣớc ngoài khác. Có thể kể ra đây một số từ nhƣ Website, Face book, Handmade.
Từ các văn bản mang tính pháp lý, các công trình nghiên cứu cho đến đời sống xã hội hiện nay không còn ai dùng từ trang thông tin điện tử mà thay vào đó là từ website; không ai dùng câu ―trang mạng xã hội để trao đổi, kết nối thông tin, đăng tải, chia sẻ thông tin cá nhân…‖ mà thay bằng từ Face book. Sex đƣợc dùng thay thế để chỉ quan hệ tình dục. Handmade đƣợc dùng để chỉ các đồ vật 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.