CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VẺ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm chiến lược và quản trị chiến lược trong kinh doanh 1. Khái niệm về chiến lược Khái niệm về chiến lược đã có lịch sử lâu đời xuất phát từ những quyết định và hành động được các đơn vị quân sự sử dụng. Họ thường xây dựng chiến lược chiến đấu để giành lợi thế với đối phương, tìm những điểm mạnh và điểm yếu của đối phương để khai thác, tấn công đúng chỗ yếu nhất để dành thăng lợi.
Các nhà quân sự thường xây dựng các chiến lược chiến đấu để giành lợi thế với đối phương. Họ cố gắng tìm hiểu những điểm mạnh — điểm yếu cũng như xây dựng các nhiệm vụ, mục tiêu của quân đội mình trong mối tương quan với đối phương và qua đó tìm cách khai thác những điểm yếu của đối phương, tấn công đúng vào những chỗ yếu nhất dé giành thắng lợi. Thực tế cho thấy, nếu người chỉ huy quân đội không phân tích cụ thể các yếu tô cơ bản đề vạch ra chiến lược tấn công hay phòng thủ thì sẽ gặp sư thất bại trên chiến trường, nếu có thành công thì chỉ là sự may mắn ngẫu nhiên. “Luận điểm cơ bản của chiến lược là một bên đối phương có thể đè bẹp đối thủ - thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn nếu họ có thể dân dắt thể trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình” (Lê Thế GIới, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Hữu Hải, 2007).
Những gì mà các nhà chiến lược quân sự trải nghiệm và tích lũy được đã giúp ích rất nhiều cho các nhà chiến lược kinh tế. Các lý thuyết chiến lược quân sự đã trở nên quen thuộc và là tài liệu tham khảo quý báu cho các nhà chiến lược kinh tế. Điểm giống nhau cơ bản của chiến lược kinh doanh và chiến lược quân sự là cả hai đều sử dụng điểm mạnh của mình dé khai thác điểm yếu của đối phương. Mặt khác nếu chiến lược không thích nghỉ với môi trường bên ngoài và bên trong thì tô chức quân sự hay đơn vị kinh doanh khó có khả năng hoàn thành nhiệm vụ và không thể đạt được các mục tiêu mong muốn.
Bên cạnh đó các tô chức quân sự cũng như đơn vị kinh doanh phải cải tiễn liên tục để thích ứng với những thay đổi của môi trường bên ngoài. Vậy chiến lược là gì? Có nhiều định nghĩa về chiến lược là gì, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan điểm của mỗi tác giả.Chandler (1962), giáo sư đại học Harvard, “Chiến lược bao gầm những mục tiêu cơ bản đài hạn của một tô chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiễn trình hành động. phân bé nguon luc thiét yếu để thực hiện các mục tiêu đó ”.David (2003) thì “Chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng cho phép một tô chức đạt được những mục tiêu đề ra ”. Đối với Michael E.Porter (2010) thi “Chién lược, để đương đầu với cạnh tranh, là sự kết hợp giữa mục tiếu cần đạt tới và các phương tiện mà doanh nghiệp cẩn tìm để thực hiện các mục tiêu ”.
Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong các lĩnh vực hoạt động. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được đùng theo 3 ý nghĩa phô biến nhất: - Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. - Đưa ra các chương trình hành động tổng quát. - Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bộ nguồn lực đề thực hiện mục tiêu đó.
Những chiến lược kinh doanh khác nhau sẽ xác định những mục tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm, thời kỳ kinh doanh của từng công ty. Tuy nhiên, việc xác định, xây dựng và quyết định chiến lược kinh doanh hướng mục tiêu là chưa đủ mà nó đòi hỏi mỗi chiến lược cần đưa ra những hành động hướng mục tiêu cụ thể, hay còn gọi là cách thức làm thế nào để đạt được mục tiêu đó. Hiện nay, hâu hết các công ty phải đối phó với môi trường ngày càng biến động và phức tạp, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, tài nguyên càng lúc càng hiểm. Vì vậy, các công ty cần phải nắm bắt những cơ hội và tạo ưu thế cạnh tranh bằng cách vận dụng những nguồn tài nguyên hữu hạn, tiềm năng của mình trong bối cảnh thường xuyên có những thay đổi của các yếu tố bên ngoài sao cho có hiệu quả cao, nhằm đạt được các chiên lược đề ra của công ty.
Các đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh đoanh Chiến lược kinh doanh được xem là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hướng tương lai nhằm đảm bảo cho sự thành công của mình. Nó có thể là tổng thê các quyết định, các hành động liên quan tới việc lựa chọn các phương tiện và 6 phân bế nguồn lực nhằm đạt được một mục tiêu nhất định. Vì vậy, chiến lược kinh doanh có những đặc trưng cơ bản sau: Chiến lược kinh đoanh mang tính định hướng (tức là vạch ra đường đi nước bước trong tương lai cho doanh nghiệp và hướng doanh nghiệp tới việc đạt được mục tiêu dài hạn). Chiến lược kinh doanh luôn tập trung vào khai thác những điểm mạnh của doanh nghiệp, phải đạt được mục tiêu tăng thế lực của doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh.
Vì rằng nếu không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược kinh doanh. Muốn giành được lợi thế cạnh tranh và tăng thế lực của doanh nghiệp thì các nhà xây dựng chiến lược phải triệt dé khai thác lợi thé so sánh của doanh nghiệp so với đối thủ, tập trung vào các biện pháp khai thác điểm mạnh chứ không nên chú trọng quá nhiều vào việc khắc phục các điểm yếu (Nguyễn Thị Kim Anh, 2007). Chiến lược kinh doanh được phản ánh trong cá một quá trình liên tục từ xây dựng, đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược. Chiến lược kinh doanh luôn mang tư tưởng tiễn công giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Chiến lược kinh doanh được hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao. Mọi quyết định chiến lược quan trọng trong quá trình xây đựng tô chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chiến lược đều tập trung vào nhóm quản trị viên cấp cao. Để đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định dài hạn và sự bí mật thông tin trong cạnh tranh (Ngô Kim Thanh, 2011). Vai trò của chiến lược kinh doanh Giúp doanh nghiệp nhận rõ được mục đích, hướng ổi trong tương lai, lam kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Giúp doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên mọi môi trường kinh doanh trong và ngoài nước. Góp phân nâng cao hiệu quả sử đụng các nguồn lực, tăng cường vi thế của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững. Tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp đề ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường. Là công cụ chia sẻ tầm nhìn của lãnh đạo doanh nghiệp đối với các cấp quản lý trực thuộc có thâm quyên liên quan.
Thể hiện tính nhất quán và sự tập trung cao độ trong đường lối kinh doanh của công ty, tránh lãng phí nguồn lực vào các hoạt động không trọng tâm. Là công cụ quản lý trong việc đánh giá tính khả thị, xác định mức ưu tiên phân bễ nguồn lực cho các hoạt động kinh doanh chiến lược. Là cơ sở để xây dựng cơ cấu tô chức hợp lý nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh, có khả năng tự vận hành hướng tới các mục tiêu chiến lược đặt ra. Là nền tảng dé xây dựng kế hoạch kinh doanh chỉ tiết trong dài hạn.
Quản trị chiến lược trong kinh doanh Chiến lược là những cách thức mà nhờ đó những mục tiêu dài hạn có thể đạt được. Chiến lược kinh doanh có thê là chiến lược mở rộng về mặt địa lý, thời gian, việc đa dạng hóa, khác biệt hóa sản phẩm, phát triển sản phẩm, xâm nhập thị trường, cắt giảm từ bỏ, thôn tính sáp nhập hoặc liên doanh nhằm vào sự thành công của mục tiêu đề ra của tô chức hay doanh nghiệp. Quản trị chiến lược trong kinh doanh có phạm rất rộng về nghiên cứu và phong phú trong thực tế vận dụng nên ở mỗi góc nhìn các nhà chiến lược lại đưa ra quan điểm, định nghĩa khác nhau về quản trị chiến lược. Ở mỗi cách nhìn đó vẫn chưa hoàn hảo, toàn diện nhưng trên tông thể, những cách nhìn đó đã góp phần to lớn vào việc nhận thức và thực hiện công tác quản trị trong các doanh nghiệp.
Một số định nghĩa về quản trị chiến lược trong kinh doanh: - Quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu định trước của một tô chức hay doanh nghiệp. - Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như trong tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm dat được các mục tiêu ở môi trường hiện tại và trong tương lai. - Quản trị chiến lược là nghệ thuật và khoa học của việc xây dựng, thực hiện và đánh giá các quyết định tông hợp giúp cho mỗi tô chức có thê đạt được mục tiêu của nó. Các cấp quản trị chiến lược - Chiến lược cấp Công ty Chiến lược cấp công ty là hệ thống những chiến lược tông quát, có thể áp dụng cho các công ty đa ngành hoặc đơn ngành, sản xuất — kinh đoanh các sản phẩm hoặc các dịch vụ trên thị trường trong nước hoặc thị trường đa quốc gia.
Chiến lược cấp công ty do lãnh đạo công ty ra quyết định và vạch rõ mục đích, mục tiêu của công ty, xác định ngành kinh doanh mà công ty theo đuôi, đồng thời thiết lập các chính sách và các kế hoạch cơ bản để đạt được các mục tiêu đã đề ra.