Chương 1. Cơ sở lý luận về báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất. Thực trạng về báo cáo kế toán quản trị tại Công ty TNHH Nến Nguyên Quang Minh. Hoàn thiện báo cáo kế toán quản trị tại Công ty TNHH Nến Nguyên Quang Minh.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Kế toán quản trị là một công cụ đắc lực cho các nhà quản trị trong vấn đề quản lý hoạt động của tổ chức. Nhà quản trị công ty cần rất nhiều loại thông tin không thể tìm thấy trong các báo cáo của kế toán tài chính mà phải có sự trợ giúp của KTQT. Báo cáo KTQT chính là phƣơng tiện để cung cấp những thông tin đó cho các nhà quản trị, giúp cho việc ra các quyết định của họ có cơ sở đúng đắn và thích hợp. Cũng chính vì vậy, nội dung liên quan đến báo cáo KTQT đã đƣợc rất nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu.
Giáo trình của Trƣơng Bá Thanh (2008) nêu lên nội dung cơ sở lý luận về KTQT nhƣ khái niệm, đặc điểm, vai trò của KTQT, phƣơng pháp lập các báo cáo KTQT cho doanh nghiệp. Ngoài những phần có tính giới thiệu tổng quát về 4 KTQT, các phần còn lại đƣợc thiết kế theo quá trình của hoạt động quản lý, từ công tác hoạch định đến tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định. Các báo cáo KTQT đƣợc hƣớng dẫn cách lập cụ thể, ví dụ minh họa và giải thích rõ ràng.[11] Tác giả Võ Văn Nhị (2011) nêu lên cơ sở lý luận về báo cáo tài chính cũng nhƣ báo cáo kế toán quản trị. Các nội dung về bản chất, vai trò, mục đích của Báo cáo kế toán.
Đặc biệt là phần hƣớng dẫn cách lập đọc các báo cáo rất cụ thể. Sách hƣớng đến giới thiệu KTQT ở phƣơng diện tổ chức ứng dụng. Tác giả giới thiệu mô hình và cơ chế vận hành KTQT trong doanh nghiệp. Việc tổ chức ứng dụng KTQT cần phù hợp với nhu cầu thông tin KTQT và đặc điểm quy mô của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có quyền lựa chọn những hình thức tổ chức phù hợp và lựa chọn những báo cáo hữu ích. Phần hƣớng dẫn lập báo cáo KTQT có số liệu giả thiết và mẫu báo cáo minh họa cho các doanh nghiệp quy mô lớn và nhỏ khác nhau. [6] Thông tƣ số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 06 năm 2006 của Bộ Tài chính hƣớng dẫn về Kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp. Thông tƣ nêu ra các nội dung chủ yếu của kế toán quản trị, việc tổ chức hệ thống thông tin KTQT có thể đƣợc thực hiện theo những quy định nội bộ của từng doanh nghiệp.
Phần phụ lục có các mẫu báo cáo kế toán quản trị cho doanh nghiệp tham khảo.[12] Đề tài luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Dung (2009) có cơ sở lý luận đƣợc nêu rất chi tiết và phân tích đánh giá ƣu nhƣợc điểm của hệ thống báo cáo KTQT tại công ty. Tác giả đã đƣa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo KTQT tại Công ty cổ phần May 10. Công ty cổ phần May 10 là công ty đa ngành nghề nhƣng hoạt động chủ yếu là hoạt động kinh doanh may công nghiệp. Hiện nay, hệ thống báo cáo quản trị của công ty cổ phần May 10 đã hình thành, tuy nhiên vẫn chƣa đƣợc đầy đủ và đảm bảo yêu cầu quản trị.
Hệ thống báo cáo KTQT của công ty gồm : Báo cáo dự toán, báo cáo tình hình thực hiện, báo cáo 5 phân tích. Qua tìm hiểu, đánh giá và phân tích, tác giả đã đƣa ra giải pháp hoàn thiện các hệ thống báo cáo trên, góp ý thay đổi cách phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí, hoàn thiện các báo cáo dự toán, báo cáo vốn bằng tiền… bổ sung báo cáo phục vụ việc ra quyết định vẫn chƣa có tại công ty. [1] Đề tài luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Diễm Hƣơng (2015) đã nêu lên đƣợc cơ sở lý luận về báo cáo KTQT, thực trạng báo cáo KTQT tại công ty. Công ty Cổ phần Dƣợc Danapha có hệ thống báo cáo kế toán quản trị khá đầy đủ, quy trình lập báo cáo rõ ràng, các báo cáo KTQT đƣợc sử dụng gồm các báo cáo dự toán, báo cáo thực hiện và báo cáo kiểm soát đánh giá.
Tuy nhiên sau khi đi sâu tìm hiểu, tác giả đã đánh giá đƣợc các điểm hạn chế từ đó đƣa ra giải pháp hoàn thiện cho hệ thống báo cáo KTQT của công ty. Bổ sung báo cáo mua hàng và tồn kho, báo cáo nguyên vật liệu trả lại nhà cung cấp, báo cáo công nợ, chi phí đƣợc phân loại theo cách ứng xử, bổ sung báo cáo chi phí khối văn phòng. [3] Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Phƣơng ( 2015) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về báo cáo KTQT, đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh khách sạn : phụ thuộc thời gian, theo mùa vụ, mức độ tập trung sức lao động cao hơn các ngành sản xuất khác, tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản rất cao. Tại công ty hệ thống kế toán trách nhiệm rất đƣợc coi trọng, các báo cáo KTQT mang tính kịp thời cao, đa số đƣợc lập hàng ngày.
Qua tìm hiểu nghiên cứu, tác giả đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện báo cáo KTQT tại công ty : phân loại chi phí theo cách ứng xử, lập báo cáo KQHĐKD theo số dƣ đảm phí và chi tiết theo từng bộ phận. Bổ sung báo cáo phân tích phục vụ kiểm soát và báo cáo phục vụ việc ra quyết định chọn nhà cung cấp, loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh một bộ phận.[8] Đề tài luận văn Thạc sĩ của Hoàng Kim Sơn (2007) đã trình bày những đặc điểm về các báo cáo KTQT tại hệ thống siêu thị Medicare, đánh giá về tổ chức KTQT. Từ đó xây dựng hệ thống báo cáo KTQT cho hệ thống siêu thị Medicare. Doanh nghiệp có đặc điểm kinh doanh là siêu thị loại nhỏ, số lƣợng mặc hàng 6 lớn, hệ thống siêu thị tại nhiều địa điểm.
Với đặc điểm loại hình doanh nghiệp nhƣ vậy, tác giả đã đƣa ra một số giải pháp xây dựng báo cáo KTQT tại công ty. Các báo cáo KTQT đƣợc quan tâm là hệ thống báo cáo dự toán và hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm.[10] Sau khi đọc và nghiên cứu các đề tài trên, tác giả nhận thấy các đề tài đều có chung cơ sở lý luận về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị, từ đó đi vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng báo cáo KTQT của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các báo cáo và nghiên cứu trên chƣa dựa vào nhu cầu thông tin của ngƣời quản lý. Trong khi đó nhu cầu là cơ sở quan trọng cho việc thiết lập báo cáo KTQT.
Đây là khoản trống cần giải quyết trong luận văn này. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHỆP SẢN XUẤT 1. TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Kế toán quản trị Kế toán quản trị là bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý tại doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ.
Khái niệm kế toán quản trị đƣợc Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “ là quá trình định dạng, đo lƣờng, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi và thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặc chẽ các tài sản này”. 16-17] Một khái niệm khác về kế toán quản trị: kế toán quản trị là một công cụ chuyên ngành kế toán nhằm thực hiện quá trình nhận diện, đo lƣờng, tổng hợp và truyền đạt các thông tin hữu ích, giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện tốt các chức năng lập kế hoạch, kiểm tra, đánh giá và ra các quyết định trong quản lý. 11] Theo Luật Kế toán Việt Nam do Quốc hội ban hành ngày 20/11/2015 tại chƣơng I, điều 3, mục 10 và thông tƣ 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 của Bộ Tài chính thì : Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, nhƣ: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tƣ, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lƣợng và 8 lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tƣ ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;.
nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nƣớc chỉ hƣớng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phƣơng pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện. [12] Có nhiều quan điểm về kế toán quản trị đƣợc đƣa ra, nhƣng nhìn chung kế toán quản trị có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Kế toán quản trị đƣợc xem nhƣ là quy trình định dạng, thu thập, kiểm tra, định lƣợng để trình bày, giải thích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính về hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp thực hiện toàn diện các chức năng quản trị”. Báo cáo kế toán quản trị Báo cáo kế toán là sản phẩm cuối cùng của quá trình kế toán số liệu, nó đƣợc lập dựa trên cơ sở tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán, theo các chỉ tiêu kinh tế - tài chính nhất định, nó phản ánh tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, phản ánh kết quả kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong một thời kỳ nhất định nhằm cung cấp cho các đối tƣợng sử dụng thông tin kế toán đánh giá, phân tích tình hình kinh tế - tài chính, quá trình sản xuất kinh doanh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, các đối tƣợng sử dụng thông tin có thể ra các quyết định cần thiết. Trong doanh nghiệp, báo cáo kế toán đƣợc chia làm hai loại: báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị.