lời mở đầu, Công ojớc của Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990) của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (1985) khẳng định: “. để phát triển đây đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cẩn đợc lớn lên trong môi tròng gia đình, trong bằu không khí hạnh phúc, yêu thơng và cảm thông ”. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không chỉ là trách nhiệm của gia đình ma con cua nha ngjéc va toàn xã hội. Đặc biệt, với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (HCKK) là những em thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, sống ngoài sự chăm sóc gia đình, không đojợc tiếp cận đầy đủ các nhu cầu cơ bản, cần hỗ trợ tâm lý xã hội, hoặc không đojợc hoiởng đầy đủ các quyền cũng nhoi không thực hiện đơjợc trách rhện của mình.
Với nhóm đối toJợng đã phải chịu thiệt thòi khi thiếu đi sự chăm sóc của gia đình, thì ngoai nha nojéc, các quỹ từ thiện của các tổ chức xã hội là một phojong thức huy động nguồn lực cộng đồng hiệu quả trong việc chăm sóc trẻ em có HCKK này. Dojới góc độ Công tác xã hội (CTXH), điều phối quỹ từ thiện trong hỗ trợ trẻ em có HCKK là một hoạt động chuyên nghiệp trợ giúp các em giải quyết các vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vojơn lên hòa nhập xã hội theo hojớng tích cực, bền vững. Trong quá trình làm việc cho Quỹ từ thiện OrEA hỗ trợ giáo dục cho trẻ em co HCKK tai Nha tinh thojong Blossom House, téi nhận thấy đojợc tầm quan trọng của hoạt động điều phối quỹ trong việc đánh giá và đáp ứng nhu cầu của các em về giáo dục. Đó là I do để tôi chọn đề tai: “Diéu phoi Quy Orphans’ Futures Alliance trong việc hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại nhà tình thơng Blossom House ” cho luận văn thạc sĩ và hy vọng sẽ góp phần vào sự phát triển của trẻ em có HCKK nói riêng và trẻ em nói chung, đặc biệt là sự phát triển toàn điện của đất nojớc, của xã hội nhằm hơjớng tới đảm bảo an sinh xã hội và công bằng xã hội.
Tống qu n ng ên ứu về vấn đề n t ệp Liên quan đến vấn đề can thiệp, đã có nhiều nghiên cứu trong nojớc và quốc tế đã nghiên cứu về các chủ đề sau: nghiên cứu tổng quan về trẻ em có HCKK và nhu cầu đơjợc hỗ trợ của các em; cách thức và hoạt động trợ giúp trẻ em có HCKK; vai trò của CTXH và các Quỹ hỗ trợ trẻ em trong trợ giúp trẻ em có HCKK; và hoạt động điều phối, vai trò của điều phối trong hoạt động của các tô chức hỗ trợ trẻ em có HCKK. Troớc tiên, về trẻ em có HCKK và nhu cầu đơjợc hỗ trợ của các em, trong tá phâm “Các quyên trẻ em trong lĩnh vyc gido duc” (The children's rights in the field of education, 2007), tac giả Shinkareva đi sâu vào phân tích các quyền đặc thò của những trẻ em trong hoạt động giáo dục nhơI: quyền giáo dục của trẻ em hạn chế về năng lực (trẻ em khiếm khuyết) hay quyền trẻ em ở tuổi mẫu giáo [63]. Theo kết luận của nghiên cứu, quyền đơjợc giáo dục của trẻ em có HCKK là bình đẳng với quyền đơjợc giáo đục của mọi trẻ em khác. Tuy nhiên, việc tiếp cận giáo dục của trẻ em có HCKK gặp rất nhiều trở ngại chủ quan và khách quan.
Về những trở ngại chủ quan là hoàn cảnh của trẻ về kinh tế, sức khỏe hay nhận thức của cha mẹ, về tâm lý của trẻ khiến trẻ khó hòa nhập môi trojờng học đojờng. Những trở ngại khách quan đến từ su ky thi hoc dojong, xã hội, hay thiéu sự hỗ trợ của nhà nojớc và cộng đồng. Do đó, tác giả khẳng định rằng việc tiếp cận quyền giáo dục của trẻ em có HCKK cần có sự hỗ trợ của nhà nơojớc với các chính sách cụ thé va hợp lý, nhận thức và cảm thông của cộng đồng và xã hội với các đối toJợng có hoàn cảnh khó khăn. Bài viết “Bình luận về quyên đợc giáo dục của trẻ em trong Công óc Quốc té” của tác giả Verheyde [72] đã nghiên cứu đã so sánh quyền giáo dục với các tiêu chuẩn về quyền con nggjời trên thế giới nhơi Điều 26 của Tuyên ngôn nhân quyền (1948), Điều 7 của Tuyên ngôn về quyền trẻ em (1959), Công oJớc chống phân biệt trong giáo dục (1960) và các Công oJớc khác.
Bài nghiên cứu khẳng định quyền tiếp cận giáo dục dựa trên nền tảng bình đẳng cơ hội và quyền tự do lựa chọn giáo dục của mọi trẻ em. Tiếp theo, tác giả phân tích vai trò của quyền đojợc giáo dục trong quyền tiếp cận hệ thống nhân văn. Và cuối cùng, tác giả đã chỉ ra sự cần thiết của việc hợp tác toàn điện trên bình điện quốc tế để đảm bảo quyền đoợc giáo dục cho mọi trẻ em. Tác phẩm “Quyên đợc học: chiến lợc học tập cho trẻ em bên lê xã hội ở Châu Au” cua tac gia Nicaise [50] dé cap đến thực trạng giáo dục của trẻ em có HCKK ở Châu Âu, đặc biệt nhắn mạnh đến sự bất bình đẳng giáo dục với các đối tgjong này cùng với một số giải thích nguyên nhân về khía cạnh kinh tế xã hội.
Tác pham con daa ra các chiến lojợc nền tảng để xóa bỏ sự bất bình đẳng giáo dục: di trọng quyền và nghĩa vụ giáo dục, hỗ trợ vật chất và kinh tế cho trẻ em có HCKK, dịch vụ giáo dục tích hợp cho đối tơjợng đặc biệt, giáo dục sớm, cải cách giáo dục, dao tao giáo viên, quan hệ nhà trojờng, phụ huynh và cộng đồng. Ở trong ngiớc, nghiên cứu “7ình hình trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và các dự báo đến năm 2020” của tác giả Lê Thu Hà phản ánh thực trạng trẻ em nghèo có hoàn cảnh khó khăn khó khăn ở Việt Nam đến năm 2013, cơ hội thách thức và các dự báo đến năm 2020 cùng với những nhu cầu cần hỗ trợ từ nhà nojớc và cộng đồng. Nghiên cứu cho thấy, các vẫn đề với trẻ em có HCKK càng trở nên nghiêm trọng do thiếu một hệ thống cơ sở chăm sóc trẻ em hoạt động mạnh và có hiệu quả, đặc biệt là thiếu các địch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp để hỗ trợ tất cả các trẻ em dễ bị tổn thojơng. Điều này đòi hỏi cần sự quan tâm, chăm sóc với phojơng pháp chuyên môn đặc thù và tính chuyên nghiệp cao của ngojời làm công tác xã hội, nhằm hỗ trợ cho các em và cộng đồng trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống.
Thứ hai, về cách thức và hoạt động trợ giúp trẻ em có HCKK, có nhiều tác phâm, nghiên cứu và các bài viết quốc tế về trong nojớc phân tích về khía cạnh này. Tác phẩm “Thực hiện quyền trẻ em” (Making Reality of the Right of the child) của Hammarberg [38] dé cập tới thực trạng thiếu sót trong việc thực hiện các quyền trẻ em trên thế giới. Tác giả đoja ra năm choJơng trình hành động để hiện thực hóa Công ơiớc quyền trẻ em: công bố và truyền bá Công oJớc toàn thế giới, đặc biệt là các đối tojong làm việc liên quan đến quyền trẻ em; thúc đây việc Phê chuân Công giớc; thành lập Ủy ban Quốc gia về quyền trẻ em; tổ chức cơ quan điều phối quốc tế; và liên tục hỗ trợ việc báo cáo thực hiện Công góc. Ngoài ra, sách giáo khoa “Công tác xã hội với trẻ em” (Soclal work with children) của Brandon, Schofield và Trinder [26] néu lén cdc phojong pháp làm việc với trẻ em có HCKK.
Cuốn sách đã đơia ra nền tang lý thuyết công cụ phục vụ làm việc với trẻ em có HCKK: khung sinh thái-phát triển trong việc hỗ trợ trẻ em có HCKK, trong đó phân tích vấn đề và nhu cầu của trẻ; quy trình hỗ trợ, trong đó phân tích việc tạo dựng quan hệ với trẻ, đánh giá tâm sinh I xã hội với trẻ và lên kế hoạch can thiệp; và các phojơng pháp hỗ trợ trẻ có HCKK, bao gồm làm CTXH với gia đình của trẻ, làm CTXH cá nhân với trẻ, làm CTXH nhóm với trẻ và làm CTXH tai nha trojong. G trong ngée, c6 cdc nghién ctu nho bao céo “Xay dung mdi trong bao \ệtrẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở Việt Nam” do Bộ Lao Động Thơjơng Binh Xã hội Việt Nam v6i su hd tro cua UNICEF tổ chức biên soạn năm 2009 đã đánh giá các văn bản pháp luật, tập trung đến pháp luật đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sách với các chuẩn mực quốc tế, tìm ra những thiếu hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo từng bơjớc hài hoà với pháp luật và các chuẩn mực quốc tế. Cụ thể, nghiên cứu khẳng định việc bảo vệ trẻ em và sự phát triển của trẻ em luôn luôn dgjgc coi là những oyu tiên hàng đầu của đất nojớc, nêu bật việc hạn chế tiếp enquyén, dac biét 1a quyén giáo dục của trẻ em có HCKK tại Việt Nam, nêu rõ trách nhiệm bảo vệ trẻ em của các cơ quan nhà nojớc và hệ thống pháp luật, đặc biệt là Bộ Lao động, Thojơng binh & Xã hội và Bộ Giáo dục & Đảo tạo đối với việc thực hiện quyền giáo dục cho trẻ em có HCKK và cuối cùng nghiên cứu đã phân tích các hoạt động, các biện pháp bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em, trong đó có lĩnh vực giáo dục, nho: tiếp cận giáo dục và dạy nghề miễn phí, và tạo môi trojong học tập thân thiện cho trẻ em; tăng cojờng kỹ năng sống, kiến thức và sự tham gia của trẻ, đặc biệt là trẻ em có HCKK. Với cùng chủ để là chuyên đề “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khó khăn dựa vào cộng đông, những Tổ chức xã hội và thách thức ” của tác giả Nguyễn Hồng Thái và Phạm Đỗ Nhật Minh và bài viết “Những hoạt động hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khó khăn” của tác giả Tuẫn Colờng về cách thức giúp các em có kỹ năng sống cơ bản để các em tự tin, chủ động vơjợt qua những khó khăn cũng nho những tình huỗng bat lợi xảy ra trong cuộc sống, xóa bỏ mặc cảm [6, 13].
Thứ ba, về vai trò của CTXH và Quỹ hỗ trợ trẻ em trong trợ giúp trẻ em có HCKK, cũng có nhiều công trình thê hiện rõ tầm quan trọng của CTXH trong việc hỗ trợ trẻ em có HCKK.