Quan điểm cha mẹ về hỗ trợ hành vi tích cực cho trẻ tăng động giảm chú ý (ADHD) tuổi tiểu học

Luận văn phân tích quan điểm của cha mẹ về hỗ trợ hành vi tích cực cho trẻ ADHD tuổi tiểu học, đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả.

Chuyên ngành

Tâm lý học lâm sàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hiểu rõ về rối loạn tăng động giảm chú ý ADHD ở trẻ em

Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là một trong những rối loạn phát triển thần kinh phổ biến nhất ở trẻ em lứa tuổi tiểu học. ADHD đặc trưng bởi những khó khăn về chú ý tập trung, kiểm soát xung độngquá động. Theo các nghiên cứu từ Centers for Disease Control (CDC), khoảng 6-7% trẻ em ở độ tuổi học tập bị ảnh hưởng bởi tình trạng này. Những trẻ có ADHD thường gặp khó khăn trong việc tuân theo hướng dẫn, hoàn thành bài tập và duy trì mối quan hệ xã hội lành mạnh. Đối với cha mẹ, việc hiểu rõ nguyên nhân và đặc điểm của ADHD là bước đầu tiên quan trọng để có thể hỗ trợ con em một cách hiệu quả và phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ.

1.1. Đặc điểm chính của ADHD ở trẻ tiểu học

Trẻ có ADHD thường thể hiện ba nhóm triệu chứng chính: thiếu chú ý, quá động và xung động. Những trẻ này có thể khó tập trung vào công việc, dễ bị phân tâm bởi các kích thích ngoài, và thường quên các chi tiết quan trọng. Chúng có xu hướng nói quá nhiều, không thể ngồi yên, và hành động bốc đồng mà không suy nghĩ hậu quả. Nhận biết sớm những đặc điểm này giúp cha mẹ can thiệp kịp thời.

1.2. Nguyên nhân và yếu tố dẫn đến ADHD

Các nghiên cứu chỉ ra rằng ADHD có cơ sở di truyền mạnh mẽ, với sự tham gia của các yếu tố thần kinh sinh học. Những bất thường trong hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh như dopamine và noradrenaline là nguyên nhân chính. Bên cạnh di truyền, các yếu tố môi trường như mang thai khi mẹ hút thuốc, tiếp xúc với độc tố, hoặc biến cố sớm trong cuộc đời cũng có thể tăng nguy cơ phát triển ADHD.

II. Các phương pháp hỗ trợ hành vi tích cực cho trẻ ADHD

Hỗ trợ hành vi tích cực (PBS) là một phương pháp tiếp cận khoa học nhằm giúp trẻ phát triển các hành vi mong muốn thông qua tăng cường hành vi tốt thay vì chỉ trừng phạt hành vi xấu. Các chiến lược như ABA (Applied Behavior Analysis)PRT (Pivotal Response Training) đã được chứng minh là hiệu quả trong việc quản lý hành vi của trẻ ADHD. Phương pháp này tập trung vào việc tìm hiểu nguyên nhân của hành vi (FBA - Functional Behavioral Assessment) và thiết kế các can thiệp phù hợp. Cha mẹ đóng vai trò trung tâm trong việc thực hiện những chiến lược này hàng ngày tại gia đình, tạo ra một môi trường nhất quán và hỗ trợ cho sự phát triển của con.

2.1. Phân tích hành vi ứng dụng ABA và ứng dụng thực tiễn

ABA sử dụng nguyên tắc học tập để thay đổi hành vi. Cha mẹ học cách xác định những kích thích trước hành vi, hành vi đó, và hậu quả sau hành vi (mô hình ABC). Bằng cách tăng cường (khen ngợi, phần thưởng) những hành vi tích cực, trẻ sẽ lặp lại chúng. Phương pháp này yêu cầu sự nhất quánkiên nhẫn từ cha mẹ nhưng đã mang lại kết quả đáng kể.

2.2. Đào tạo quản lý cho cha mẹ PMT vai trò chủ chốt

Đào tạo quản lý cho cha mẹ (PMT) tập trung vào việc trang bị kỹ năng cho cha mẹ để họ có thể quản lý hành vi của con hiệu quả hơn. Các chương trình như STEP (Systematic Training for Effective Parenting) dạy cha mẹ về lắng nghe tích cực, đặt ranh giới rõ ràng, và sử dụng phần thưởng một cách khoa học. Khi cha mẹ được đào tạo thích hợp, họ trở thành những nhà can thiệp chính cho con em mình.

III. Quan điểm và thái độ của cha mẹ về hỗ trợ hành vi tích cực

Thái độ và niêm tin của cha mẹ có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả của các can thiệp hành vi. Những cha mẹ có quan điểm tích cực về khả năng của con em mình và tin tưởng vào phương pháp hỗ trợ hành vi thường thực hiện can thiệp một cách nhất quánđạt kết quả tốt hơn. Ngược lại, những cha mẹ có cảm giác bất lực hay không tin vào hiệu quả của các phương pháp này có thể gặp khó khăn trong việc duy trì chiến lược. Các nghiên cứu cho thấy rằng giáo dục cha mẹthay đổi nhận thức của họ về ADHD là yếu tố quan trọng để cải thiện kết quả cho trẻ. Khi cha mẹ hiểu rõ bản chất sinh học của ADHD, họ sẽ giảm bớt trách móctập trung vào giải pháp xây dựng.

3.1. Ảnh hưởng của niêm tin và kỳ vọng của cha mẹ

Niêm tin của cha mẹ về khả năng giúp con em kiểm soát hành vitác động trực tiếp đến sự cam kết và tính nhất quán trong thực hiện các can thiệp. Những cha mẹ có kỳ vọng cao nhưng hiện thực thường động viên con nhiều hơn và tạo ra các cơ hội để trẻ thành công. Ngược lại, những kỳ vọng quá cao hoặc quá thấp có thể dẫn đến thất vọng hoặc bỏ cuộc sớm.

3.2. Nhận thức về ADHD và mối quan hệ với kết quả can thiệp

Nhận thức chính xác về ADHD - rằng đó là rối loạn thần kinh sinh học chứ không phải lỗi nuôi dạy hoặc tính cách xấu - là nền tảng cho can thiệp hiệu quả. Cha mẹ có hiểu biết đúng đắn sẽ áp dụng các chiến lược phù hợp với nhu cầu thực tế của con và không chỉ trích.

IV. Hỗ trợ hành vi tích cực lấy gia đình làm trung tâm FCPBS

Hỗ trợ hành vi tích cực lấy gia đình làm trung tâm (FCPBS) là một phương pháp tiếp cận toàn diện tôn trọng nhu cầu, giá trị và ưu tiên của gia đình. Thay vì áp đặt các can thiệp từ bên ngoài, FCPBS cộng tác với cha mẹ để xác định các mục tiêu hành vigia đình coi là quan trọng nhất. Phương pháp này kết hợp các chiến lược ABA, PBS và PMT trong bối cảnh thực tế của gia đình. Các chuyên gia làm việc với cha mẹ để xây dựng khả năng của họ, chứ không chỉ cung cấp lời khuyên. Kết quả là một kế hoạch can thiệp bền vững mà cha mẹ có thể thực hiện lâu dài, và từ đó cải thiện kết quả sống của cả gia đình. FCPBS đặc biệt hiệu quả ở trẻ ADHD vì nó linh hoạt và thích ứng với những thách thức riêng biệt của mỗi gia đình.

4.1. Nguyên tắc cốt lõi của FCPBS

FCPBS dựa trên các nguyên tắc cơ bản: tôn trọng tự chủ của gia đình, hợp tác đồng đẳng, và can thiệp dựa trên bằng chứng. Cha mẹ không được xem là bệnh nhân cần chữa trị, mà là những người có khả năng có thể phát triển kỹ năng. Quá trình này bắt đầu bằng đánh giá chức năng của hành vi vấn đề trong bối cảnh gia đình thực tế.

4.2. Lợi ích và hiệu quả của FCPBS trong điều trị ADHD

Các nghiên cứu cho thấy FCPBS giúp cải thiện hành vi của trẻ ADHD đáng kể, đồng thời giảm căng thẳng cho cha mẹ. Bằng cách tập trung vào ưu tiên của gia đìnhxây dựng lên điểm mạnh, phương pháp này tạo ra sự thay đổi bền vữngnâng cao chất lượng sống cho toàn bộ gia đình.

18/12/2025
Quan điểm của cha mẹ về hỗ trợ hành vi tích cực cho con có rối loạn tăng động giảm chú ý lứa tuổi tiểu học

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN VÀ cơ SỞ LÝ LUẬN QUAN ĐIỂM CỦA CHA MẸ VÈ HỎ TRỢ HÀNH VI TÍCH cực CHO CON CÓ ADHD LỨA TUỐI TIẾU HỌC 1. Tông quan nghiên cứu vân đê 1. Rối loạn tăng động giảm chú ý ADHD là một dạng rối loạn phát triển phổ biến và được biểu hiện bởi sự giảm chú ý, lộn xộn hay thiếu quy tắc, hoặc tăng động, xung động. Giảm chú ý và thiếu quy tắc thường liên quan đến việc không có khả năng để duy trì thực hiện một nhiệm vụ nào đó, hay trông có vẻ như là đang không lắng nghe người khác nói và thường mất các đồ dùng, vật dụng cần thiết, ví dụ: dụng cụ học tập.

Bên cạnh đó, tăng hoạt động nghĩa là hoạt động quá mức, người bồn chồn và khó để có thể ngồi yên, thường gây ra sự phiền nhiễu cho các hoạt động của người khác; và sự xung động được biểu hiện bởi sự khó chờ đợi, thường chen ngang lời người khác nói. Mặc dù rối loạn tăng động giảm chú ý thường không được chẩn đoán cho đến khi trẻ tham gia chương trình tiểu học, nhưng đôi khi ở giai đoạn trước đó (mẫu giáo), một số triệu chứng đã được nhìn thấy khá rõ như chạy nhảy và/hoặc nói rất nhiều, không chờ đợi đến lượt khi tham gia các trò chơi với những trẻ khác mặc dù giáo viên đã nhắc nhở. Rối loạn tăng động giảm chú ý thường tồn tại đến giai đoạn trưởng thành và gây ra các hệ quả là sự suy giảm trong các chức năng xã hội, học tập và nghề nghiệp (Faraone, s. Khảo sát dân số cho thấy rối loạn tăng động giảm chú ý xảy ra trong hầu hết các nền văn hóa là khoảng 5% ở trẻ em và 2.5% ở người trưởng thành (APA, 2013).

Một số kết quà nghiên cứu tại các quốc gia khác cho thấy: tỷ lệ trẻ em từ 6-14 tuổi tại Thổ Nhĩ Kỳ có ADHD là 21.8% (Ercan và cộng sự, 2015); tỷ lệ trẻ em từ 6 - 18 tuổi tại Iran có ADHD là 4%, với tỉ lệ mắc ờ trẻ nam (5.2%) nhiều hon trẻ nữ (2.7%) (Mohammadi và cộng sự, 2021); tỉ lệ trẻ em tiểu học tại các khu vực nông thôn của Trung Quốc có ADHD là 7.5%, trong đó những học sinh là nam giới, ít tuổi hơn và khả năng nhận thức thấp hơn thể hiện các triệu chứng 7 của rôi loạn rõ hon (Pang và cộng sự, 2021); tỉ lệ toàn câu rơi vào khoảng 2% đên 7% và mức trung bình là xấp xỉ 5% (Sayal và cộng sự, 2018). Trong khi đó, tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu năm 2019 tại Huế cho thấy, có 4.1 % trẻ tiểu học có nguy cơ với ADHD và tỉ lệ ở học sinh nam cao hơn học sinh nữ (Lê Đình Dương và cộng sự, 2019). Các nghiên cứu vê quản lý hành vi trẻ có rôỉ loạn tăng động giảm chú ý Thông qua việc tiếp cận tài liệu nghiên cứu, có thể thấy nhiều phương pháp được ứng dụng trong quản lý hành vi ớ trẻ ADHD. Các chiến lược hành vi hình thành sự can thiệp có hệ thống thông qua cách tiếp cận được kết nối một cách hợp lý với chức năng nhận thức của hành vi mục tiêu (Pelham, Gnagy, Burrows- MacLean, Fabiano, Chacko, Wymbs, Tresco & Walker 2005).

Ba cách tiếp cận cụ thế trong chiến lược quản lý hành vi ở trẻ em được tham khảo từ tài liệu: quản lý hành vi, điều chỉnh nhận thức - hành vi (nhắm mục tiêu một phần vào các biến số bên trong trẻ em) và các can thiệp giáo dục (nhắm mục tiêu vào các biến số trong trường học). Nghiên cứu chưa được thực hiện cụ thể với học sinh có rối loạn tăng động giảm chú ý, nhưng hiệu quả của liệu pháp hành vi đã được chỉ ra trong các nghiên cứu so sánh hành vi của người học trong thời gian áp dụng hoặc không áp dụng liệu pháp hành vi (DuPaul và cộng sự 2011; Pelham & Fabiano 2001). Các kết quả tích cực nhờ chiến lược phòng ngừa cũng được chỉ ra bởi Trout, Ortiz Lienemann, Reid và Epstein (2007) và Harlacher (2006) cũng như DuPaul et al (2011). Quản lý hành vi đòi hỏi phải sử dụng các biện pháp can thiệp bao gôm cả nguyên tắc củng cố và trừng phạt nhằm mục đích tăng hành vi mong muốn và giảm hành vi có vấn đề (Purdie, Hattie & Carroll 2002; Schultz et al.

Cung cap cho cha mẹ những hướng dẫn và phản hồi để cải thiện hành vi của trẻ, không chỉ nâng cao hành vi được xã hội chấp nhận - vốn thường là điếm yếu ở trẻ có ADHD (Franzen & Kamps 2008:151; Martinussen, Tannock & Chaban 2011), mà còn có thể góp phần thay đổi trong thái độ của trẻ đối với người khác. Weyandt, Fulton, Schepman, Verdi và Wilson (2009) đã đề xuất nhiều chiến lược khác nhau để hỗ trợ trẻ có ADHD trong lớp học. Các chiến lược này bao gồm từ 8 việc cung câp phản hôi thường xuyên và sử dụng các nhiệm vụ định hướng hành động và yêu cầu phản hồi tích cực, cho đến nghiên cứu các chương trình kỳ năng và củng cố tích cực. Phản hồi về hành vi góp phần giúp trẻ hiểu rõ hơn về hậu quả của hành vi cụ thể và khen ngợi những hành vi phù hợp sẽ làm tăng cảm giác thành công và được chấp nhận ở trẻ.

Các phương pháp can thiệp hành vi bao gồm quản lý tình huống dự phòng, sự chú ý của giáo viên (nhìn mắt, vồ vai, cười.với trẻ) và tính kinh tế của các phần thường quy đổi trong lớp học (ví dụ: nhãn dán, ngôi sao và mặt cười. Các phần thưởng được mã hóa hoặc điếm có thể được tích lũy và đổi lấy phần thưởng (củng cố hành vi) tại một thời điểm nhất định (Hernandez & Reitman, 2014) (Ví dụ, 50 sticker có thể đổi ra một chiếc ô tô đồ chơi, hoặc một buổi đi khu vui chơi. Harlacher, Roberts và Merrel (2006) mô tả quản lý dự phòng là việc áp dụng các hậu quả, cả tích cực lẫn tiêu cực, tùy thuộc vào các hành vi cụ thể của trẻ. Cách tiếp cận này cũng cố tích cực hành vi thích hợp nhằm tăng tần suất của nó (Gordon & Asher 1994; Lessing & Dreyer 2009).

Giáo viên không chỉ nên xác định những hậu quả có khả năng củng cố hoặc củng cố hành vi mong muốn của học sinh (Gordon & Asher 1994), mà còn thay đổi phần thưởng thường xuyên đề duy trì giá trị củng cố (Morisoli & McLaughlin 2004). Các phương pháp tiếp cận nhận thức - hành vi dựa trên niềm tin rằng trẻ phải được dạy để hành động như những tác nhân thay đối hành vi của chính trẻ, điều này hàm ý sự thay đổi bên trong về thái độ và hành vi. Wulfsohn (2010) chỉ ra rằng việc tự quản lý xoay quanh việc trẻ nhận ra hành vi của chính mình và xác định hành vi nên lặp lại và hành vi nào cần giảm thiểu, bằng cách ghi lại hành vi thực tế và đặt ra các mục tiêu hành vi. Các kỳ thuật hành vi nhận thức liên quan đến việc thay đổi kiểu suy nghĩ, chịu trách nhiệm về hành động của mình và đạt được sự tự chủ (Cratty 2004; DuPaul và cộng sự 2011; Gureasco-Moore, DuPaul & White 2006:160; Langberg và cộng sự 2013:1008; Niesyn 2009:230; Schultz và cộng sự 2011:257).

Các biện pháp can thiệp hành vi nhận thức không chỉ bao gồm việc tự quản lý mà còn dạy các kỳ năng nhận thức như giải quyết vấn đề và tự hướng dần, trong đó trẻ được dạy tuân theo một loạt các bước khi lập kế hoạch 9 cho một nhiệm vụ (Wulfsohn 2010:32). Trẻ có thể lặp lại hướng dẫn, mô tả nhiệm vụ cho chính mình, suy nghĩ về hậu quả của cách tiếp cận đã chọn và diễn đạt kế hoạch của trẻ và giáo viên hỗ trợ cho đến khi trẻ có thể tự mình áp dụng quy trình (Miranda, Presentacion & Soriano 2002: 549; Morisoli & McLaughlin 2004 : 103). Mặc dù những thay đổi về hành vi nhận thức được giáo viên khởi xướng từ bên ngoài, nhưng thành công với quy trình này chỉ đạt được sau khi chính trẻ hiểu rõ hơn về quy trình và biến nó thành của riêng mình. Các biện pháp can thiệp giáo dục bao gồm các khía cạnh lớp học và học thuật (Purdie et al.

2002:68), bên cạnh việc nắm rõ các điều kiện môi trường như các sự kiện xảy ra trước đó cũng như việc thiết lập và thiết lập các quy tắc trong lớp học. Các biện pháp can thiệp trước đây nhằm mục đích thay đồi môi trường lớp học cho trẻ có ADHD để các hành vi phù hợp có nhiều khả năng xày ra hơn và các hành vi không phù hợp ít có khả năng xảy ra hơn (Langberg, Epstein, Altaye, Molina, Arnold & Vitiello 2008:652; Langberg và cộng sự 2013:1009, Martinussen và cộng sự 2011:194). Những học sinh có ADHD thường biểu hiện thành tích học tập kém vì không thể tham gia hoặc hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã đặt ra (Junod et al. Những trẻ này sẽ được hưởng lợi từ các chiến lược hoặc hoạt động giảng dạy mang lại tiềm năng lớn hơn để chủ động tiếp cận tài liệu học thuật theo cách tích cực (DuPaul, Ervin, Hook & McGoey 1998:589; Niesyn 2009:229).

Các biện pháp can thiệp giáo dục bao gồm: học sinh có ADHD được ngồi cách xa các khu vực có khả năng gây mất tập trung, không sử dụng chồ ngồi theo nhóm, học sinh ngồi ờ hàng ghế đầu để giáo viên có thể quan sát và theo dõi hành vi tốt nhất, sử dụng hệ thống bạn bè, dạy kèm đồng đẳng, để đưa ra hướng dẫn cho học sinh. Mồi lần chi có một nhiệm vụ và những công việc khó khãn hơn nên được giải quyết sớm hơn thay vì muộn hơn trong ngày. Việc thiết lập các quy tắc cũng có giá trị trong việc hỗ trợ trẻ có ADHD vì các quy tắc thể hiện kỳ vọng và do đó người học hiếu rõ những gì được mong đợi ở trẻ. Việc áp dụng và thực thi nhất quán các quy tắc sẽ giúp khuyến khích trẻ thể hiện hành vi nhất quán (Niesyn 2009:230; Reiber & McLaughlin 2004:2).

10 Quản lý hành vi được tăng cường nhờ đáp ứng thường xuyên và các nhiệm vụ định hướng hành động để cung cấp cho trẻ có ADHD cơ hội thực hiện hoạt động mong muốn. Phản hồi thường xuyên và cúng cố tích cực là những nguyên tắc quan trọng của can thiệp. Giáo viên giới thiệu khái niệm về những phần thưởng quy đồi khi đạt được những yêu cầu (ví dụ: chip poker, nhãn dán, ngôi sao và mặt cười) cho học sinh và giao nhiệm vụ cho trẻ lựa chọn phần thưởng để có thể trao đổi về mã quy đổi (ví dụ: Ngôi sao, sticker, mặt cười.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ