Chương 1, Nghị định 90): “DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động không quá 300 người”. Việc xác định DNVVN dựa vào quy mô DN chứ không căn cứ vào loại hình sở hữu. Tuy nhiên, định nghĩa trên chưa phản ánh đầy đủ hết đặc tính của từng ngành, do đó cần xác định đúng đắn các đặc tính của mỗi ngành khi phân loại quy mô DN theo yêu cầu của thị trường thì định nghĩa DNVVN sẽ chính xác và phù hợp hơn. Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNVVN, khái niệm DNVVN được điều chỉnh: “DNVVN là cơ sở đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong Bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” (Bảng 1.2: Tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Khu vực Tổng Tổng Số lao động Số lao động Số lao động nguồn vốn nguồn vốn I.Nông, lâm nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 đến từ trên 20 đến từ trên 200 đến và thủy sản xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.Công nghiệp và 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 đến từ trên 20 đến từ trên 200 đến xây dựng xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.Thương mại và 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 đến từ trên 10 đến từ trên 50 đến dịch vụ xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009) Theo quy định tại điều 4 của Luật Hỗ trợ DNVVN ngày 12/6/2017 và quy định tại điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP, ngày 11/3/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNVVN thì tiêu chí xác định DNVVN được quy định như sau: DNVVN bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một 9 trong hai tiêu chí sau đây: (i)Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng;(ii) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người.2 Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường * Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Đặc điểm của các DNVVN xuất phát trước hết từ chính quy mô của DN. Cũng như các DNVVN trên thế giới, với quy mô nhỏ, DNVVN Việt Nam cũng có những đặc điểm tương tự như ở các quốc gia khác. Ngoài ra, do đặc trưng riêng của nền kinh tế nên các DNVVN Việt Nam còn có những đặc điểm riêng. Những đặc điểm cơ bản của các DNVVN Việt Nam thể hiện như sau: - Các DNVVN ở Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức DN, bao gồm từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và các công ty tư nhân đến hợp tác xã.
Trong một thời gian dài, các DN thuộc các thành phần khác nhau không được đối xử bình đẳng, bị phân biệt đối xử. Điều đó ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay, đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cận nguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng…). - Là những DN có quy mô vốn và lao động nhỏ, vì vậy DNVVN thường có điểm mạnh là dễ khởi sự và tính linh hoạt cao, có các lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống. Tuy nhiên, đây thường là những DN khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân.
Đặc điểm này đã làm cho các DNVVN gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của mình do không có các lợi thế kinh tế theo quy mô. Mặt khác, do rất dễ khởi nghiệp nên DNVVN cũng phải chịu nhiều loại rủi ro trong kinh doanh. Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy, càng nhiều DNVVN ra đời thì cũng càng có nhiều DNVVN bị phá sản. - Khả năng quản lý hạn chế: Do các chủ DN thường là những kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành DN.
Họ vừa là người quản lý doanh nghiệp, 10 vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao. Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Phần lớn những người chủ DN đều không được đào tạo qua một khóa quản lý chính quy nào, thậm chí chưa qua một khóa đào tạo nào. - Trình độ tay nghề của người lao động thấp: Các chủ DNVVN không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao động có tay nghề cao do hạn chế về tài chính.
Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng như của những người thân của họ về khu vực này vẫn còn khá lớn. Người lao động ít được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp vì vậy trình độ thấp và kỹ năng thấp. Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các DNVVN, cơ hội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác động làm cho nhiều lao động có kỹ năng không muốn làm việc cho khu vực này. Do vậy, DNVVN hiện nay rất thiếu nguồn lực để thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng.
- Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu triển khai. Nhiều DNVVN có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua với giá rẻ. Tuy nhiên, các DNVVN rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây truyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu. Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các DNVVN có thể tồn tại trên thị trường.
- Các DNVVN Việt Nam thường sử dụng chính những diện tích đất riêng của mình làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh và rất khó thuê được các mặt bằng sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp này rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô của doanh nghiệp được mở rộng. Một số doanh nghiệp thuê được đất thì gặp nhiều trở ngại trong việc giải phóng mặt bằng và đền bù. - Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài.
Nguyên nhân chủ yếu là do các DNVVN thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất 11 khó khăn. Tuy nhiên, DNVVN lại rất có lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương, đặc biệt là các ngành sử dụng nhiều lao động, DNVVN có những tác động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư tại địa phương hoặc duy trì và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, việc phát triển DNVVN còn có lợi ích như giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, qua đó góp phần làm giảm tệ nạn xã hội và giúp Chính phủ giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội khác [50].
* Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của các DNVVN trong nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hoạch định cơ chế, chính sách, cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo lập môi trường vĩ mô thuận lợi cho DNVVN phát triển lành mạnh. DNVVN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không thể thiếu trong bức tranh kinh tế thế giới trên cả phương diện kinh tế và xã hội - Khía cạnh kinh tế: + DNVVN đóng góp tích cực vào việc tăng trưởng và phát triển kinh tế, làm tăng giá trị xuất khẩu của cả nước, góp phần vào việc ổn định kinh tế-xã hội Luôn chiếm tỷ trọng lớn trong nhiều nền kinh tế (tiêu biểu là ở Nhật Bản và Đức với tỷ trọng hơn 99% tổng số các doanh nghiệp), DNVVN có những đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tăng trưởng GDP. Đối với các nền kinh tế ở trình độ thấp, DNVVN thường đạt được tỷ trọng giá trị gia tăng và GDP lớn. Chẳng hạn như ở Malaysia, tỷ trọng giá trị gia tăng mà chúng tạo ra là 36,4%.
Ở Việt Nam, mỗi năm các DNVVN đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước, trên 30% tổng thu ngân sách nhà nước[71],. Phân bố rộng khắp trong các vùng, miền, DNVVN còn bảo đảm cho nguồn thu nhập ổn định của một bộ phận lớn dân cư, góp phần giảm khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng. + DNVVN là khu vực thu hút tích cực và có khả năng huy động các nguồn vốn, nguồn lực của xã hội cho đầu tư phát triển. + DNVVN góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Với tính năng động cao, DNVVN tỏ ra nhạy cảm trước những biến động của nền kinh tế và dễ dàng chuyển hướng sản xuất, kinh doanh sang những ngành hàng có mức sinh lợi cao.