CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT MIỄN, GIẢM THUẾ NHẰM HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI DỊCH COVID 19 1. Lý luận về miễn, giảm thuế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid 19 1. Khái niệm về thuế 1.1 Khái niệm Các nhà kinh tế học đã có quá trình nghiê cứu sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau nhằm tìm khái niệm thuế theo cách đánh giá của mình. Các Mác viết “ thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước”1.
Bằng cách định nghĩa khác, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng thuế là “một hình thức phân phối thu nhập tài chính của nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vài quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lạị”2. Ở khía cạnh nghiên cứu thuế với tư cách là một nội dung điều chỉnh của luật pháp, các chuyên gia về luật thuế cũng đã nhận định “thuế là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách. Thuế không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ”3. Mặc dù có nhiều các định nghĩa về thuế như vậy nhưng chúng ta đều có thể thấy như vậy nhưng chúng ta đều có thể nhận thấy nét chung sau: Thuế là một khoản phí tài chính bắt buộc hoặc một số loại thuế khác áp dụng cho người nộp thuế (một cá nhân hoặc pháp nhân) phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau.
Việc không trả tiền, cùng với việc trốn tránh hoặc chống lại việc nộp thuế, sẽ bị pháp luật trừng phạt4. Ngoài ra, một khái niệm khác về thuế cũng khá phổ biến là: “Thuế là hình thức phân phối thu nhập tài chính của nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào 1 Xem : Các Mác, Ăng ghen Tuyển tập, tập 2, NXB. Sự thật, Hà Nội,1961. 2 Xem: Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, Đại từ điển kinh tế thị trường, H.
3 Xem: Taxattion Law in Australia, Geoffrey Lehmann, Cynthua Coleman, Butterworths,1997. 4 Xem: Gtr Luật thuế Việt Nam, NXB CAND,2018, tr. 8 quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”(Phạm Thị Giang Thu,2018). Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thực hiện các mục tiêu xác định trước(Phạm Thị Giang Thu,2018).2 Đặc điểm Dựa vào những khái niệm thì có thể thấy rằng thuế có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách.
Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản cảu họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Đối với các cơ quan thu thuế khi thay mặt nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đối xử đối với người nộp thuế. Tính bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tính không hoàn trả. Do thuế không có tính hoàn trả, về mặt lý thuyết, khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế - hành vi chuyển giao một khối lượng tài sản cho nhà nước và chắc chắn sẽ không nhận lại được chúng trong tương lai.
Vì vậy, để thực hiện thu thuế ổn định, phải sử dụng biện pháp bắt buộc như là một thuộc tính cơ bản của thuế. Thứ hai, thuế gắn với yếu tố quyền lực. Tính quyền lực của thuế được xuất phát bởi lý do xuất hiện các khoản thu về thuế của nhà nước. Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước.
Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Các nhà kinh tế, chính trị đều thống nhất cho rằng thuế là biện pháp chủ yếu của nhà nước để nhà nước điều tiết hoặc can thiệp vào nền kinh tế. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước tạo ra cho thuế tính cố dịnh, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Thứ ba, thuế mang tính không đối giá, không hoàn trả trực tiếp.
Thuế không phải là khoản phải trả khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía nhà nước. Bất kỳ ai, khi đủ điuề kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế 9 đối với nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được các lợi ích công cộng nào. Điều nay cho phép phân biệt thuế với các khoản thu nộp do đối tượng nộp chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình đã nhận được một lợi ích nhất định từ phía nhà nước. Đó là các khoản thu từ phí, lệ phí.3 Vai trò của thuế Thuế có vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội.
Cụ thể vai trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế xã hội được thể hiện như sau: Thứ nhất, Thuế giúp ổn định thị trường, điều tiết nền kinh tế.Thuế tham gia điều tiết nền kinh tế gồm hai mặt: Kích thích và hạn chế. Thông qua thuế, nhà nước đã linh hoạt điều chính các chính sách thuế trong từng thời kỳ nhất định, nhằm tác động vào cung-cầu giúp điều chỉnh chu kỳ kinh tế – một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường. Thứ hai, Thuế tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất, mang tính chất ổn định lâu dài và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tang.
Bên cạnh đó nguồn thu từ thuế vào ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công của Nhà nước, không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân. Nguồn thu từ thuế một phần được sử dụng cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, đại bộ phận còn lại được chi cho đầu tư phát triển, cho văn hóa, thông tin, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, tài trợ xã hội, nghiên cứu khoa học…Cụ thể các cá nhân hay các công ty khi có thu nhập rồi sẽ nộp một phần thuế vào ngân sách nhà nước. Khi các đường xá, câu cống cần phải sửa chữa thì sẽ lấy số tiền ấy để sửa,… Thứ ba, Thuế đảm bảo cơ cấu kinh tế, giúp phát triển theo đúng định hướng của nhà nước ổn định và lâu dài. Thuế là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
10 Bên cạnh đó thuế còn giúp đảm bảo công bằng xã hội. Thông qua thuế, nhà nước sẽ điều tiết phần chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo, bằng việc việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng.2 Khái niệm về miễn, giảm thuế 1.1 Khái niệm Miễn, giảm thuế là việc loại trừ toàn bộ (miễn) hay một phần nghĩa vụ thuế của NNT trong những trường hợp nhất định nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế đối với các đối tượng gặp khó khăn hoặc thực hiện các mục tiêu nhất định của Nhà nước.2 Đặc điểm Do các loại thuế được ban hành ở nhiều đạo luật đơn hành, nên các quy định về miễn thuế có ở nhiều đạo luật. Việc miễn, giảm thuế nhằm thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế xã hội của Nhà nước như: thực hiện khuyến khích phát triển kinh tế, khuyến khích đầu tư, trợ giúp các đối tượng đặc biệt, thực hiện các chính sách xã hội. Miễn, giảm thuế có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, NNT vẫn thuộc diện người nộp thuế.
Áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và nộp thuế theo kê khai. Thứ hai, việc miễn, giảm thuế chỉ diễn ra trong một thời hạn nhất định theo quy định của quy phạm pháp luật. Thứ hai, NNT rơi vào điều kiện hoàn cảnh đặc biệt được nhà nước quy định sẽ được hỗ trợ miễn,giảm khoản thuế phải nộp. Thứ ba, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển vào các lĩnh vực, ngành nghề nhất định mà phù hợp với định hướng phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.3 Ý nghĩa miễn, giảm thuế Thứ nhất, các ưu đãi miễn, giảm thuế phụ thuộc vào chủ trương,chính sách, chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.
Mỗi quốc gia theo đuổi mỗi mục tiêu kinh tế cho riêng mình nhằm đưa kinh tế nước mình phát triển nhanh chóng, vững chắc và khắc phục được những khuyết điểm nội tại của nền kinh tế do trình độ phát triển kinh tế cũng như điều kiện tự nhiên của mỗi quốc gia không giống nhau do đó việc mỗi nước có những chính sách ưu 11 đãi miễn, giảm thuế lại khác nhau, mục đích có thể hỗ trợ thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển cũng như thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào đất nước mình. Thứ hai, việc miễn, giảm thuế còn nhằm mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh việc miễn, giảm thuế giúp hỗ trợ doanh nghiệp phần nào nguồn vốn tránh trường hợp doanh nghiệp có thể bị phá sản, nguồn vốn được miễn, giảm đó doanh nghiệp có thể hồi phục lại sản xuất, kinh doanh và phát triển hoặc có thể đầu tư. Thứ ba, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn kinh tế- xã hội khó khăn và địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế , đổi mới cơ sở hạ tầng, tạo việc làm cho người dân ở các địa phương này. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực ngành nghề nhất định phù hợp với định hướng phát triển của đất nước.