CHƯƠNG I: HÌNH TƯỢNG TRĂNG TRONG THO CA XƯA NAY VÀ NHỮNG Ý KIẾN VỀ TRĂNG TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ I. HÌNH TƯỢNG TRĂNG TRONG THƠ CA XƯA NAY:: Trang là món qua vô giá của tuiên nhiên ban tặng cho hành tinh của chúng ta, cho muôn loài và cho cơn người, trăng chính là viên ngọc quí kỳ điệu tỏa sấng giữa màn đêm, xua tan bóng tối, điểm tô cho cuộc sống nhân gian. Trong Ui trí của mỗi chúng ta, trắng thường sánh đôi với mặt trời tạo Dinh một cặp đối xứng giữa ngày và đêm cùng sáng ngời rực rỡ, nhưng về bản tính thì trái ngược nhau. Mặt trời thuộc Dương, còn trăng thuộc Âm.
Do đó, trăng tượng trưng cho nữ tính: dịu dàng, tinh khiết, đẩy cảm xúc, tượng ing cho thi ca, âm nhạc, tình yêu đời, yêu người, yêu quê hương đất nước giữa những tim hỗn lãng mạn. 'Từ ngàn xưa trăng là nguồn cảm hứng cho thi nhân sử dung với một tin số lặp lại khá cao trong những Ang thở van tuyệt điện của mình. Qua quá trình sưu tẩm, nghiên cứu chúng tôi thấy hình tượng trăng mang tính chất là biểu tượng trong văn học đạt mite độ cao. Ở mỗi xứ sở, mỗi thời đại người ta xúc cắm và miêu tả trăng với những ý vị riêng.
Nhưng nói chung tất cả nhằm giải tổ niém say mê của tim hồn mình đối với “nàng trăng” diém lệ một tình yêu lãng mạn tột cùng của con người. Tring với tư cách I biểu tượng trong thi ca, nó phan ánh nhiễu chidu kích trong cuộc sống của con người. Trăng là cảnh đẹp thiên nhiên: Lê Ngọc Trà đã nhận định: “Cái đẹp trong thiên nhiên là nơi bắt đầu của mọi cái đẹp. Vẻ đẹp của thiên nhiên ngày một phong phú là nhờ hoạt động thực tiễn của con người.
Chính trong mối quan hệ thực tiễn đó thiên nhiên trở thành đối tượng trực tiếp của cắm thy thẩm mỹ đi vào nghệ thuật là nhờ quan hệ chúng với thực tiễn” (1) "Trong ví try thiên nhiên, trong cuộc sống, tring IA đối tượng quen thuộc của nghệ thuật, của thí ca. Từ Đông sang lây, từ cổ chí kim, thí nhân viết nhiều về trăng - về cảnh đẹp trong đêm trăng bằng sư cảm nhận của riêng minh, Trăng trong những điệu ca dao ngọi ngào ngày xưa của đân tộc ta thực sự có cảm xúc: | “Dain hè gió mát trăng thanh ; Em ngồi ché lạt cho anh chắp thitng” tye (1) Phudng l ý lận vanhor NXE Giáo Duc, 1997, trang 153 SVTH: Dương Thị Thanh Iiuyên Trang 6 Luận văn 101 nghiỆp _— - = -———————-—-——— Ánh trăng thanh giữa một đêm hè trông thật lãng mạn, cảnh đêm được phủ bởi một thứ ánh sáng thanh: khiết tuyệt điệu Cảnh vật không những đẹp mà cồn gợi tình nữa. Con người sinh hoat đưới ánh trăng cfng lăng mạn nhưng bình dj, chân chất như tình yêu của họ. Cũng trong cảnh: đẹp đêm tring ấy người con gái đã xao động trước tình yêu đơn phương của mình: “Lilng la rắn; quế soi thêm Hương đưa bát ngát càng thêm bận lòng Đền tà thấp thoáng bóng trăng Ai đem người ngọc thung thăng chốn nay” (Ca dao) Bài ca đao vừa có tình vừa có cảnh cả hai đều được miêu ta chân thực, sinh động và tỉnh tế bing những lồi thơ tuyệt dep, cing aghe càng thích càng đọc cing yêu.
Vang quế là vắng trăng. Trăng càng dep thi lòng cô càng trăn trở. Trăng cứ thấp thoáng hic Ẩn lúc hiện qua những kể 1K ring cây thì lòng cô gái lại triển miên với nỗi lòng khó tả. Cái thứ ánh sáng ấy ching tuyệt diệu hơn khi con người coi nó như một linh thể, ngọc ngà của thiên nhiên: “Hai cô tát nước bên đàng Sao cô mic ánh trăng vàng đổ di” (Ca đao) Ở dây cái đẹp của trăng, cái đẹp của nước, cái đẹp của chàng trai cô gái như hòa quyện lấy nhau.
[Nah Ảnh: cô gái tát nước dưới ánh: tring trong đêm trắng, từng giln nước chan hòa và ngời ngợi ánh trăng làm cho ai cũng đấm say xúc động. Và cái đẹp nọ sinh ra cái đẹp kia. Sự đấ m say xúc độn g của chà ng trai đã vat lên thà nh một câu hỏi tuy ệt vời để ca ngợi cái đẹp cửa thiên nhiên, ca ngợi cái đẹp của tâm hỗn con người. ‘Trang cũng là để tài đặc hữu của thơ Dường, nó lại càng có địa vị nổi bật trong thơ LY Bạch: “Vang trăng m núi Thiên San Mênh mang bể nước mây ngàn sáng soi Giá đâu mudn đặm chạy đài Thối đưa trăng sáng ru ngoài ngọc môn ” (Trăng quan ai) Phong cảnh sơn thi y hữu tìn h đượ c khÁ c lên thật lãn g mạ n sốn g độn g như ng ma n mác buồn: SVTH : Dwmg Thị Thanh thon Trang 7 Luận văn tốt nghiệp “Sang tiên minh nguyệt quang Nghỉ thị địa Phượng sương Cử đầu vọng minh nguyệt Dé đâu tư cố hương ” (Tinh dg tư - Lý Bạch) Tác giả dùng mấy cfu thơ “ngil ngôn tứ tuyệt” ngắn gọn hàm súc để miêu tả cảnh đêm thanh nh, bẩu trời trong xanh nhưng vắng lặng, êm 4, thơ mộng mà trữ tình.
Ánh trăng không những sáng mà còn tràn ngập chan hòa và dịu hiển vừa bang bạc vita lung linh, Lam sao một tân hén đa cẩm dat dào cảm xúc lai láng yêu thương như Lý Bach lại không có thể rang động trước ánh mát toayệt diệu đẩy hấp dẫn của chị Hằng ? “Y tại ngôn ngoại”, với bài thơ giản đơn mA chan chứa cả tain hỗn ngưỡng mộ vẻ đẹp thiên nhiên và tình cắm nhớ thương qué hương tha thiết của tác giả. Cũng là một nhà thơ lớn đời thịnh Đường, khác với Lý Bạch nhà thơ lãñp#aen Đỗ Phủ cũng có những tuyệt tác không thiếu cảnh tình thi vị: “Dém nay trừng sing Phu Châu Phong khuê riêng ngắm trăng shu lễ loi Cho trăng soi ngấn đôi dòng lệ khô. ” (Dêm trăng - Nguyệt dg) Ánh trăng tong thd Đỗ Phủ là ánh trăng sẩu, buda cô quạnh lẻ loi, Cảnh đẹp bi thiết Gnh tế mà lại đẹp tuyệt vời. Từng chữ từng câu từng vẫn thơ như trần ngập cả ánh trăng.
Nhưng cing có những vẫn thơ ánh trăng không còn lẻ loi nữa - nó sáng láng vành: vạch: “Cảnh thu nay đáng nữa rồi Trừng thu thêm sáng, khung trời thêm cao LÂU nam ai rót rượu đào Tiếng tơ tiếng trúc thanh tao nhịp nhàng. ” (Trăng thu) Bầu trời tro ng xan h lổn g lộn g, tiế ng tơ tiế ng trú c ngâ n lên tha nh lao giữ a ban trời mênh mông nln một âm hưở ng điể m khắ c giữ a nhữ ng điệ u luâ n vũ cửa ánh tră ng, cản h thu gió mây , rượ u đào và con ngư ời tạo nên sự hài hòa thá nh thót. ‘Vinh hoa tin h túy tỏa ca từ lời thơ , hồn thơ khi ến ngư ời ta cả m phụ c, dé dàn g đi vào lòng người: SVIHI: Dương Thị Thanh LIiuyễn Trang 8 Luận văn lỐI nghiệp ——- “Tinh thay bình da khoát Nguyệt diing đại giang bin” (Lữ de thư hoài) lòng sông đang chay xiết nên khi trăng chiếu trên mặt nước, trăng bị xé ra từng mãnh! vụn tung tóc. Trăng càng tung tóc dữ dội thì sông càng chảy xiết.
Sang thời trung Đường, Bạch Cư DỊ cũng là một nhÀ thơ có cảm hứng miêu tả thiên nhiên, một thiên nhiên mang âm hudng buén man mác: “Thuyén mấy lá đông tây lạnh ngắt Mội vắng trừng trong vắt lồng sông Thuyền không đậu bến mặc ai Quanh thuyền trăng dai nước trôi lạnh làng ” (Tỳ bà hành) Ang trăng sáng bang khung im ấng ma hiệu lực khơi sẩu với những mau sắc khác nhau, Lê Ngọc Trà khẳng định: “Pham trà cái đẹp bất ngudn từ hiện thực có cơ sở khách quan trong đời s6ng”“” Trong nén văn học ở nước ta các thi nhân cfng đã sử dụng mô tp trăng để khắc họa đường nét thiên nhiên một cách: độc đáo: “Trong động Thanh Ili ngàn cẩn tric Thác bay như gương rới lạnh làng Mơ cãi hac tàng lan tiên cung Đêm qua trăng sáng trời như nước °` (Trong động Thanh Iu - Nguyễn Trãi) Nguyễn Trãi mở ra khung cảnh có bẨu trời trong veo như đồng nước, ánh trăng sáng lầm cho không gian thanh bạch gợi cảm Đặng Trần Côn đã miéu tả ánh trăng dan xen vào hoa với lá: “LA màn lay ngọn tric xuyên Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rem Hoa giải nguyệt, nguyệt in mỘt tấm Nguyệt lang hoa hoa thắm từng bông Nguyệt hoa hoa nguyét (ring tring” (Chỉnh Phụ Ngâm) ơn (1) PhưLy CB - Sđd - trang 147 ig SVTII : lì mẹ Thị Thanh lruyển Trang 9 —_ —— — —— = Bóng của hoa được ánh trăng roi lên như những đường kim tuyến trên thẳm lụa - Và cảnh vật đêm ấy chính là tấm thẩm lụa, Nguyễn Du thật tài tình khi ông nắm bất được 1m lý con người, và ông đã thành công khi léng nguyệt vào cây - cảnh: vào (tâm trạng: “Giường nga chênh chấch ddm song Vàng gieo ngấn nước cây lông bóng sân ” (Truyện Kiểu) Sự hài hòa của cảnh sắc không chỉ gợi nên bởi mầu sắc mà còn do mối quan hệ giữa mau sắc và ánh sáng. Ánh sáng tỏa xuống trin gian xiên nghiêng qua rang cây như đúc cả bầu trời. Nguyễn Du không dựng cảnh đối lập với tâm hồn nhân vật mà chỉ dung lên một loại cảnh sfc thuận chiểu với tình cảnh alifin vật. Thực tế nay đã chứng minh cho lời tuyên ngôn nghệ thuật của Nguyễn Du: “Người shu cảnh cũng deo shu, Người buồn cảnh có vui dau bao giờ ”.
Ba bài thơ trăng của Hỗ Chí Minh đã khẮc họa rõ nét cái đẹp của đất trời: “Người ngắm trăng soi ngoài cửa số Tring nhòm khe cửa ngắm nhà the” (Ngắm trăng) “Vang trăng, cái Ánh sáng cao khiết huyền ảo từng làm mê đấm nhiễu văn nghệ sĩ đã được Bác Hỗ đặc biệt yêu quí, coi như bẩu bạn của tim hồn cẩm hứng thi ca"? Bác yêu rất nghệ sĩ vắng trăng trên đầu, cảnh vật cũng rất nhân sinh quan: “Tiếng sufi trong như tiếng hát xa Trăng ling cổ thụ bóng lồng hoa” (Cảnh khuya) CA bức tranh thủy mạc được thm dưới ánh trăng. Lời khen của người xưa “thi trung hữu hoa” có thé tặng cho câu thơ này. Tring còn có một độ chin: đẩy dan nhất của tháng đầu xuân: “Ram xuân ling lộng trăng soi Khuya về bátngát trăng ngân đây thuyển. (1) Vũ Quần Phương - Thớ với lời bình NXI Giáo Dục 1990 SVIN: Diemp thị thant Mayen Treong 10 Luận văn tốt nghiệp _ Trang cũng là chết cảm xúc và tưởng tượng trong sáng tấc của Lưu Trọng Lư tạo nên trong thơ ông nhiều đấm say và mo mộng.