mở đầu cho cuộc tranh luận về việc duy trì hay xoá bỏ hình phạt tử hình. Hưởng ứng quan điểm xoá bỏ hình phạt tử hình, từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, một số quốc gia đã tiến hành xoá bỏ hình phạt này như Venezuela (1863), San Marino (1865), Costa Rica (1877), Ecuador (1906), Uruguay (1907), Colombia (1910) và Iceland (1928)2. Tuy nhiên, cuộc tranh luận liên quan đến hình phạt tử hình và phong trào xoá bỏ án tử hình trên thế giới chỉ thực sự gay gắt và thu hút được sự quan tâm của mọi người kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai 3 – khi người ta nhận thấy quá nhiều người dân vô tội bị phát-xít kết án tử hình và quyền sống của con người cần được quan tâm thích đáng. Ngày nay, cuộc vận động xoá bỏ hình phạt tử hình không còn là vấn đề nội bộ của mỗi quốc gia mà rất sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế như: Uỷ ban nhân quyền, Hội đồng kinh tế - xã hội và Đại hội đồng Liên hiệp quốc… Tiêu biểu cho các quốc gia vận động xoá bỏ hình phạt tử hình là Liên minh Châu Âu, với các lập luận sau: - Về mặt pháp lý, quyền sống là quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người; không ai được phép tước đi quyền sống của người khác, cho dù đó là Nhà nước.
Việc duy trì án tử hình đã vi phạm quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người là quyền được sống. Các văn bản pháp lý quốc tế đã quy định rất rõ quyền này. Để bảo vệ quan điểm của mình, họ đưa ra các căn cứ pháp lý như: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 (“Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân” - Điều 3), “Không ai có thể bị tra tấn hoặc nhục hình, bị đối xử hoặc chịu hình phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo” (Điều 5); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (“Mỗi người đều có quyền được sống. Quyền này được pháp luật bảo vệ” – Điều 6.1); Nghị định thư không bắt buộc thứ hai về huỷ bỏ án tử hình của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về quyền trẻ em 1989 (“Các quốc gia thành viên công nhận rằng mọi trẻ em đều có 2 Xem Phụ lục 3, Bảng 1.
3 Từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai đến nay, có ít nhất 72 quốc gia xóa bỏ án tử hình trong luật, 10 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm thường và 28 quốc gia không áp dụng hình phạt tử hình trên thực tế (Xem Phụ lục 3). 13 quyền cố hữu được sống” – Điều 6.1); Nghị định thư số 6 và số 13 của Công ước Châu Âu về quyền con người… - Về mặt đạo lý, xoá bỏ án tử hình sẽ làm tăng phẩm giá của con người, nó thể hiện sự tôn trọng giá trị căn bản nhất của con người là quyền sống. Việc áp dụng hình phạt tử hình là một sự tàn ác không cần thiết đối với con người; nhất là trong những trường hợp xử oan người vô tội4 (chúng ta không thể khắc phục được hậu quả). Án tử hình không những ảnh hưởng đến bản thân người bị kết án, mà còn tác động nặng nề lên tâm lý gia đình, thân nhân người phạm tội và người thi hành án tử hình – những người không phạm tội và không đáng phải chịu áp lực tâm lý này.
Những người theo quan điểm xoá bỏ án tử hình thường đưa ra khẩu hiệu: “Tại sao chúng ta lại giết những kẻ sát nhân để cho mọi người thấy rằng giết người là sai?” [18]; hoặc theo quan niệm của đạo Phật: “lấy oán trả oán thì oán chồng chất”. - Xét về hiệu quả, việc áp dụng hình phạt tử hình không góp phần làm giảm tội ác. Thậm chí, ở một số quốc gia, xoá bỏ hình phạt tử hình còn làm giảm tỷ lệ tội phạm đặc biệt nghiêm trọng5; ở các quốc gia duy trì hình phạt tử hình nhưng tình hình tội phạm vẫn gia tăng với diễn biến ngày càng phức tạp. Điều đó đã bác bỏ lập luận hình phạt tử hình có tác dụng ngăn ngừa tội phạm.
Hơn nữa, hình phạt tù chung thân ngoài tác dụng ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới, còn tạo cơ hội cho người bị kết án sửa chữa những sai lầm mà họ đã gây ra [58; tr. Theo nghiên cứu của Ts. Radelet công bố tại Hội thảo “Liên Minh châu Âu – Việt Nam về án tử hình”, khi khảo sát 70 cựu giám đốc và giám đốc đương chức của ba hiệp hội các nhà nghiên cứu tội phạm học chuyên nghiệp tại Mỹ cho thấy: 85% ý kiến các chuyên gia cho rằng các nghiên cứu thực tế cho thấy án tử hình chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là biện pháp răn đe hiệu quả đối với tội phạm hình sự hơn mức án tù lâu năm. Tương tự như vậy, kết quả thăm dò dư luận đối với 400 cảnh sát trưởng và cảnh sát ở các hạt được chọn một cách ngẫu nhiên trên khắp nước Mỹ, 2/3 trong số đó tin rằng án tử hình không có tác dụng làm giảm đáng kể số tội phạm giết người.
Với người dân Mỹ, vào năm 2004, 62% số người được hỏi cho rằng án tử 4 Theo thống kê ở Mỹ, số án tử hình sai chiếm 7% số người bị kết án tử hình [32; tr. 5 Theo thống kê ở Mỹ, một số bang đang áp dụng hình phạt tử hình, tỷ lệ vụ án giết người là 93/1.000 dân; ở những bang bãi bỏ hình phạt tử hình, tỷ lệ này là 90/1. 14 hình không phải là một biện pháp răn đe. Ngoài ra, một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng việc thi hành án tử hình còn kích động bạo lực nhiều hơn là giảm tình hình tội phạm.
Theo đó, việc chính phủ giết một người sẽ gửi thông điệp đến toàn thể mọi người rằng: trong một hoàn cảnh nào đó, một số người đáng phải chết và việc giết người đó là xác đáng. Điều đó làm giảm giá trị của con người. - Cuối cùng, việc xoá bỏ hình phạt tử hình là xu thế tất yếu của thời đại, các quốc gia, dù muốn hay không, dù sớm hay muộn, cũng không thể đi ngược lại xu thế này. Điều đó được chứng minh thông qua con số các quốc gia xoá bỏ hình phạt tử hình trong gần 150 năm qua và sự gia tăng số lượng các quốc gia xoá bỏ hình phạt tử hình trong những năm gần đây.
Nếu tính từ thời điểm quốc gia đầu tiên trên thế giới xoá bỏ hình phạt tử hình năm 1863 (Venezuela) đến năm 1980, trải qua 118 năm, chỉ có 18 quốc gia xoá bỏ án tử hình. Nhưng chỉ tính riêng từ năm 1981 đến tháng 10.2006 (26 năm), trên thế giới đã có 60 quốc gia xoá bỏ hình phạt tử hình. Một số quốc gia khác tuy chưa hoàn toàn xoá bỏ hình phạt tử hình nhưng đã không áp dụng hình phạt tử hình trên thực tế (30 quốc gia) hoặc xoá bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm thường (11 quốc gia)6. Đối với các quốc gia còn duy trì hình phạt tử hình thì phạm vi áp dụng hình phạt này ngày càng thu hẹp (trừ một vài nước như Trung Quốc, Iran…).
* Quan điểm ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình Những người theo quan điểm ủng hộ việc duy trì án tử hình cho rằng các nước ủng hộ quan điểm xoá bỏ án tử hình đưa ra các lập luận trên là phiến diện, chủ quan, duy ý chí và chưa thuyết phục. Đồng thời họ cũng đưa ra các quan điểm của mình để lần lượt phản bác từng lập luận của phe đòi huỷ bỏ án tử hình như sau: - Thứ nhất, về mặt pháp lý, hình phạt tử hình không vi phạm quyền sống của con người. Bởi vì con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, nên một người được thực hiện quyền tự do của mình trong khuôn khổ không vi phạm quyền tự do của người khác, theo quy định của pháp luật. Nếu một người vi phạm quyền tự do của người khác, đồng nghĩa với việc họ đã tự tước đi quyền tự do của mình.
Điều 6 Xem Phụ lục 3. 15 đó đã được pháp luật cảnh báo trước và việc gánh chịu hậu quả là không thể tránh khỏi. Vì vậy, nếu một người thực hiện hành vi giết người khác, tức là họ đã mang quyền sống của mình ra đánh đổi. Trong trường hợp này, không ai vi phạm quyền sống của người phạm tội, mà chính họ đã tự khước từ quyền sống của mình [2; tr.
Duy trì hình phạt tử hình có nghĩa là chúng ta không còn cách nào khác phải từ chối quyền sống của một người để bảo vệ quyền sống cho mọi người. Hơn nữa, việc duy trì hình phạt tử hình không vi phạm các pháp luật quốc tế. Bởi lẽ, trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân” nhưng các quyền này chỉ được đảm bảo với điều kiện họ không được xâm phạm quyền sống, tự do và an ninh cá nhân của người khác. Nếu trên cơ sở quy định này, ai đó cho rằng hình phạt tử hình là xâm phạm quyền sống, thì hình phạt tù cũng xâm phạm quyền tự do của người khác.
Ngay trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 cũng không cấm việc áp dụng hình phạt tử hình.2 của Công ước này quy định: “Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xoá bỏ thì chỉ được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với tội nghiêm trọng nhất căn cứ vào luật pháp hiện hành ở thời điểm thực hiện tội ác và không được trái với quy định của Công ước này và Công ước ngăn ngừa tội diệt chủng”. Nếu xoá bỏ hình phạt tử hình có nghĩa là chúng ta tự tước bỏ công cụ pháp lý hình sự cần thiết để ngăn chặn, trừng trị những tội “nghiêm trọng nhất” [42; tr. Việc viện dẫn Nghị định thư thứ hai của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị về xoá bỏ án tử hình là không hợp lý. Bởi đây là Nghị định thư không bắt buộc, nên các quốc gia có toàn quyền lựa chọn tham gia hoặc không.
Nếu tìm mọi cách để các quốc gia thông qua Nghị định thư này, có nghĩa là đã xâm phạm quyền tự quyết dân tộc – một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Hiện nay, số lượng các quốc gia tham gia Nghị định thư này chỉ là thiểu số7.