Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN VÀ TÁI HÕA NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI MÃN HẠN TÙ 1. Khái niệm, mục đích và phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt từ có thời hạn 1. Khái niệm hình phạt tù có thời hạn Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực mang tính lịch sử và bản chất giai cấp sâu sắc. Đấu tranh với tội phạm là nhiệm vụ tất yếu khách quan đặt ra cho mọi nhà nước, không phân biệt đó là kiểu nhà nước nào, chiến hữu nô lệ, phong kiến, tư sản hay nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và sự tồn tại của xã hội, Nhà nước quy định hành vi này hay hành vi khác xâm phạm đến lợi ích của giai cấp mình là nguy hiểm cho xã hội và bị coi là tội phạm đồng thời quy định những chế tài để áp dụng đối với những hành vi đó. Hình phạt được coi là một trong những công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Các Mác đã nói: “Hình phạt không phải một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội, chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” [4, tr. Trong lịch sử cũng như trong lí luận của luật hình sự có nhiều quan niệm khác nhau về hình phạt song cơ bản được phân thành hai quan niệm chính: Loại quan niệm thứ nhất: Coi hình phạt là công cụ trả thù người phạm tội, theo đó hình phạt là những biện pháp hà khắc, phổ biến mang tính nhục hình, đầy đọa gây đau đớn về thể xác, chà đạp lên phẩm giá con người [18, tr.
Tương ứng với quan điểm này là các hình phạt hà khắc như: Tùng xẻo, lăng trì, phanh thây, chém bêu đầu. các hình phạt này phổ biến trong hình luật của các Nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến và các nhà nước theo đạo Hồi. Loại quan niệm thứ hai: Coi hình phạt là công cụ đấu tranh phòng và chống tội phạm. Theo quan niệm này hình phạt chủ yếu nhằm mục đích cải 9 z tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, phòng ngừa sự phạm tội lại và phòng ngừa người khác phạm tội.
Các hình phạt áp dụng đối với người phạm tội không gây đau đớn về thể xác, không chà đạp lên nhân phẩm con người [6, tr,12]. Đây là quan điểm dân chủ, tiến bộ mang tính nhân đạo sâu sắc và có tính xu thế tất yếu của thời đại, phổ biến trong luật hình sự của nước dân chủ. Quan niệm này về hình phạt thể hiện rõ nét phương châm kết hợp cưỡng chế với giáo dục và cải tạo trong chính sách hình sự. Cưỡng chế là không thể thiếu nhưng giáo dục thuyết phục có vai trò rất quan trọng, nó có ưu thế hơn cưỡng chế ở khả năng làm cho con người có thể tự nguyện tuân theo và như vậy trên cơ sở của sự tự giác, sự đồng tình đó mới thực sự bền vững.
Theo quan điểm này, mục đích cuối cùng được đặt ra là hạn chế và đi đến triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm, tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Các quan niệm về hình phạt cơ bản được hình thành trên cơ sở quan niệm về tội phạm. Quan niệm về tội phạm như thế nào thì sẽ có quan niệm tương ứng như thế về hình phạt. Nếu coi tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử và mang bản chất giai cấp sâu sắc thì hình phạt nó mang những thuộc tính tương ứng.
Hình phạt là hậu quả pháp lý tất yếu của tội phạm, không có việc quy định tội phạm chung chung mà tương ứng với tội phạm là hình phạt gắn liền với nó. Trong khoa học luật hình sự nước ta, khái niệm hình phạt trong sách báo pháp lý chuyên khảo và giáo trình luật hình sự của một trường đại học được hiểu tương đối thống nhất: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của nhà nước do tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của Luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm" [30, tr. 10 z Hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS năm 1999 của Việt Nam gồm các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung, trong đó hình phạt chính gồm cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình. Hình phạt tù có thời hạn là loại hình phạt chính thường được áp dụng nhất trong các vụ án hình sự.
Trong luật hình sự Việt Nam, tù có thời hạn là hình phạt truyền thống và có lịch sử lâu đời, là hình phạt chính được quy định phổ biến trong các chế tài của luật hình sự. Trong thực tiễn xét xử, tù có thời hạn là hình phạt được áp dụng phổ và được Nhà nước coi là loại hình phạt hữu hiệu nhất để đấu tranh với các loại tội phạm. Trong các tài liệu sách báo pháp lý ở nước ta, đa số đều ghi nhận: "Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để học tập, lao động cải tạo" [30, tr. Trong BLHS Việt Nam năm 1999, hình phạt tù có thời hạn được quy định tại Điều 33 với nội dung như sau: Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định.
Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm. Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ mỗi ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù [22] Như vậy, hình phạt tù có thời hạn buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội, khỏi môi trường sống hoạt động bình thường trong một khoảng thời gian nhất định, họ phải chấp hành hình phạt tại các trại giam của Nhà nước, với những quy chế nghiêm ngặt, đồng thời trong thời gian này họ bị tước một số quyền tự do cơ bản như: tự do đi lại, tự do kinh doanh, quyền bầu cử, quyền ứng cử. Họ phải chịu sự giám sát chặt chẽ của cán bộ trại giam, phải học tập, lao động theo quy định của pháp luật. 11 z Theo Điều 3 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã quy định: "Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội".
Như vậy, nội dung hình phạt tù có thời hạn (Điều 33 BLHS năm 1999) chưa quy định rõ chế độ giam giữ, giáo dục, cải tạo đối với người bị kết án song Luật Thi hành án hình sự đã cụ thể hóa các nội dung này. So với các hình phạt như: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ thì hình phạt tù có thời hạn có nội dung pháp lý nghiêm khắc hơn nhiều bởi các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ không tước quyền tự do của người bị kết án, trong khi đó tù có thời hạn là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết án trong một thời gian nhất định. "Thời hạn" của hình phạt tù có thời hạn là cơ sở để phân biệt hình phạt này với hình phạt tù chung thân. Tù chung thân là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết án không có thời hạn.
Trong các hình phạt chính xét về mức độ nghiêm khắc thì hình phạt tù có thời hạn đứng trước các hình phạt không tước tự do và đứng sau hình phạt tù chung thân và tử hình. So với Điều 25 BLHS năm 1985 thì Điều 33 BLHS năm 1999 có những thay đổi đáng kể, Điều 25 BLHS năm 1985 quy định: "Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải bị giam trong một thời gian 3 tháng đến 20 năm. Thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù" [20]. Như vậy, so với Điều 25 BLHS năm 1985, Điều 33 BLHS năm 1999 chỉ rõ: Thời hạn ba tháng đến hai mươi năm quy định rõ chỉ áp dụng đối với người phạm một tội, thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù như thời gian tạm giam.
Đây là điểm mới hơn so với quy định trước đây, khắc phục những thiếu sót trong quá trình lập pháp. Theo quy định tại Điều 33 BLHS tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là 20 năm. Trong trường hợp 12 z phạm nhiều tội mức tối đa của tù có thời hạn là 30 năm (Điều 50). Đây là quy định mới so với BLHS năm 1985.
BLHS năm 1985 quy định dù một người có phạm nhiều tội nhưng đều bị xét xử trong một bản án thì mức hình phạt tù tối đa đối với người ấy cũng không được quá 20 năm. Việc quy định như vậy đã không thể hiện được nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt và không mang lại hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Bộ luật hình sự năm 1999 quy định thời hạn tù cụ thể đối với từng cấu thành tội phạm cụ thể. Mức tối thiểu và mức tối đa với hình phạt tù có thời hạn được quy định trong các điều luật và trong từng khung hình phạt cụ thể không hoàn toàn giống với mức tối thiểu và mức tối đa được quy định cho loại hình phạt này mà tùy thuộc vào từng tội phạm, từng trường hợp phạm tội cụ thể mà Nhà nước quy định mức tối thiểu và tối đa cho phù hợp.
Có tội phạm chỉ quy định mức tối thiểu là ba tháng và mức tối đa là hai năm, nhưng có tội phạm phải quy định mức tối thiểu là mười năm và mức tối đa là hai mươi năm. Nếu khung hình phạt quy định mức tối thiểu là cao hơn ba tháng tù thì khi quyết định hình phạt Tòa án có thể tuyên phạt bị cáo dưới mức tối thiểu của khung hình phạt nhưng không được dưới ba tháng tù. Người bị kết án Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn nếu trước đó họ đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giam, tạm giữ sẽ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.