Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE QUYÉT ĐỊNH HÌNH PHẠT DOI VỚI TOI GIAO CẤU HOẶC THUC HIEN HANH VI QUAN HE TINH DỤC KHAC VỚI NGƯỜI TU DU 13 TUOI DEN DƯỚI 16 TUOI TRONG BO LUAT HINH SU NAM 2015 1. Nhận thức chung về quyết định hình phat va tội giao cau hoặc thực hiện hành vi quan hệ tinh dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi 1. Khái niệm, đặc điểm của quyết định hình phạt * Khái niệm quyết định hình phạt Quyết định hình phạt là một chế định quan trọng của Luật hình sự, là một hoạt động cơ bản của Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, dựa trên kết quả của hoạt động định tội danh trước đó. Quyết định hình phạt chỉ đặt ra đối với các trường hợp chủ thể chịu trách nhiệm hình sự không được miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt, tức là đối với các trường hợp cần thiết phải áp dụng hình phạt nhằm trừng trị và giáo dục chủ thé chịu trách nhiệm hình sự.
Ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật hình sự nào xác định khái niệm "quyết định hình phạt". Trước đây thuật ngữ quyết định phạt còn có tên gọi là "/ượng hình", sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành và có hiệu lực thì thuật ngữ "ương hình" được thay thế bằng "quyết định hình phat" [17, tr. Trong khoa học luật hình sự đã có rất nhiều tác giả đưa ra khái niệm về quyết định hình phạt. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam năm 2017 của Trường đại học Luật Hà Nội do GS.
Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên quan niệm: Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức khác nhau) trong phạm vi luật định dé áp dụng đối với chủ thé chịu trách nhiệm hình sự [9, tr. 10 Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Phần chung của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội do GS. Lê Văn Cảm chủ biên cho rằng: Quyết định hình phạt là việc Tòa án nhân danh Nhà nước lựa chọn biện pháp trách nhiệm hình sự cụ thé trong phạm vi luật hình sự quy định để áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội [6, tr. Tác giả Đinh Văn Quế có định nghĩa: Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người kết án phải chấp hành.
Tòa án lựa chọn hình phạt nào, mức phạt bao nhiêu, phải tuân thủ theo những quy định của Bộ luật Hình sự năm [23, tr. Sách phương pháp, kỹ năng quyết định hình phạt, giải đáp những vẫn đề mới nhất về thi hành án hình sự và các văn bản pháp luật về thi hành án hình sự năm 2010 của nhà xuất bản Lao động, định nghĩa: Quyết định hình phạt là thuật ngữ dùng dé chỉ hoạt động của hội đồng Xét xử trong tố tụng hình sự nhằm quyết định sự lựa chọn loại hình phạt, mức hình phạt cụ thể được qui định trong Bộ luật Hình sự năm, để áp dụng đối với người phạm tội và được ghi nhận trong ban án [38, tr. Nhìn chung, các khái niệm về quyết định hình phạt đều khăng định rằng: Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thé (bao gom hình phạt chính va có thể có cả hình phạt bổ sunø) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định dé áp dung cho người phạm tội [50, tr. Việc lựa chọn loại hình phạt được hiểu là chỉ lựa chọn loại hình phạt chính hoặc cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong số các hình phạt thuộc hệ thống hình phạt mà Bộ luật Hình sự năm đã quy định, với những mức độ cụ thé, phù hợp với tính chat, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành 11 vi phạm tội và nhằm đặt được mục dich của hình phạt.
Tuy nhiên thì tác giả cũng nhận thấy rằng các khái niệm trên có xuất hiện cụm từ “người phạm tội”, theo quan điểm tác giả cần thay cụm từ này bằng cụm từ “cá nhân người phạm tội” thì sẽ chính xác hơn đối với đối tượng của quyết định hình phạt. Lý do bởi vì Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định thêm đối tượng của quyết định hình phạt là pháp nhân thương mại phạm tội. Theo Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về pháp nhân thương mại thì mọi doanh nghiệp đều là pháp nhân thương mại (ngoài ra còn bao gồm các tô chức kinh tế có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận). Do vậy, mọi doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn hoạt động trên mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh đều có thê trở thành đối tượng bị xử lý hình sự khi có hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
Từ những phân tích trên, tác giả rút ra khái niệm về quyết định hình phạt như sau: Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án có thẩm quyền thực hiện sau khi đã định toi danh và tùy thuộc vào từng trưởng hop cụ thé dé quyết định loại hình phạt, mức hình phat áp dụng cho cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cua hành vi phạm tội theo quy định cua Bộ luật Hình sự hiện hành. * Đặc điểm của quyết định hình phạt Quyết định hình phạt là một hoạt động thực tiễn có tính đặc thù của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Dựa vào những quy định của pháp luật hình sự, hoạt động quyết định hình phạt nhằm giải quyết van đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong các trường hợp phạm tội cụ thé. Trên co sở đó, hình phạt được quyết định một cách công băng, bình dang, đảm bảo sự kết hợp giữa trừng trị với giáo dục người phạm tội và phòng ngừa chung.
Qua đó, có thé thấy quyết định hình phạt có những đặc điểm sau: Thứ nhất, quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự của Hội đồng xét xử. Đối tượng điều chỉnh của ngành Luật hình 12 sự là những quan hệ xã hội tiêu cực phát sinh giữa một bên là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm với bên kia là Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các quan hệ xã hội, trong đó có các quan hệ pháp luật hình sự. Trong quan hệ pháp luật hình sự đó, nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự của người phạm tội không mặc nhiên phát sinh nếu không có hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án được tiến hành trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt những quy trình, thủ tục tố tụng do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để chứng minh người đó phạm tội và áp dụng các biện pháp chế tài của luật hình sự đối với họ. Do đó, quyết định hình phạt luôn luôn là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự của Bộ luật Hình sự năm về quyết định hình phạt đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể.
Các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 là những quy định pháp luật hình sự có tính khái quát cao và không phải dé áp dụng riêng cho một tội phạm cụ thể nào nên quyết định hình phạt không thê mang tính tự động, dập khuôn được mà ngược lại luôn đòi hỏi Thâm phán và Hội thầm nhân dân phải có tính sáng tạo khi áp dụng. Chỉ khi lựa chọn chính xác các quy phạm của Bộ luật Hình sự năm mới có thé có được quyết định hình phạt đúng đắn. Do đó, quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và vận dụng các quy phạm pháp luật hình sự một cách sáng tạo của Tham phan và Hội thâm nhân dân dé hình phạt được tuyên không những đảm bao tính pháp lý, chính tri - xã hội mà còn là phương án tối ưu dé đạt được các mục đích của hình phạt. Thứ hai, đối tượng của quyết định hình phạt là cá nhân người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội.
Pháp luật hình sự Việt Nam trước đây chỉ thừa nhận chủ thé của tội phạm là con người cụ thể đã được thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và có lỗi trong điều kiện hoàn toàn có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đồng thời phải đạt độ tuôi luật định tại thời điểm thực hiện tội phạm. Trường hợp, người bi coi là phạm tội (bi cáo) được 13 đưa ra xét xử nhưng qua quá trình xét xử lại không có tội và được ghi nhận băng bản án tuyên vô tội của Tòa án thì đương nhiên việc quyết định hình phạt sẽ không diễn ra. Điều này đã cho thấy quyết định hình phạt chỉ diễn ra khi người phạm tội qua quá trình xét xử bi khang định là có tội bằng bản án kết tội của Tòa án có thâm quyên và phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, đối tượng của quyết định hình phạt mà Tòa án đã tuyên chứ không ai có thé chấp hành thay, dù là cho tự nguyện.
Có như vậy, hình phat mới phát huy được tác dung trừng tri và giáo duc, cải tạo người phạm tội. Quyết định hình phạt cũng là một hoạt động tố tụng hình sự, thể hiện ở việc Tòa án tuân thủ các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên một hình phạt bảo đảm tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật đối với người phạm tội bị kết án. Qua đó, góp phan tích cực vào việc bảo vệ các quyền con người và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. Khái niệm, đặc diém của tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi * Khai niệm của tội giao cau hoặc thực hiện hành vi quan hệ tinh dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Trên thực tiễn có một số định nghĩa khác nhau về giao cầu được phố biến trong các sách từ điển hiện nay ở nước ta.
Theo từ điển của Tiếng Việt thi giao cau là “Giao tiếp bộ phận sinh duc ngoài cua giống đực với bộ phận sinh duc của giống cái ở động vật" [20, tr. Tuy nhiên theo Dai từ điền tiếng Việt thì giao cau tức là “Cùng thực hiện chức năng sinh sản” [59, tr. Bách khoa toàn thư Wikipedia giải thích "giao cấu" là hành vi tình dục, quan hệ sinh lý nhưng không nhất thiết vì mục đích sinh sản.